USS Abbot (DD-184) e USS Brazos (AO-4), Baía de Guantánamo

USS Abbot (DD-184) e USS Brazos (AO-4), Baía de Guantánamo

USS Abbot (DD-184) e USS Brazos (AO-4), Baía de Guantánamo

Aqui vemos o destruidor da classe Wickes USS Abade (DD-184) e o petroleiro de frota USS Brazos (AO-4) na Baía de Guantánamo. Outro destruidor está entre eles, mas apenas seus funis podem ser vistos.

Destruidores dos EUA: Uma História de Design Ilustrada, Norman Friedmann. A história padrão do desenvolvimento dos destróieres americanos, desde os primeiros destróieres de torpedeiros à frota do pós-guerra, e cobrindo as classes massivas de destróieres construídas para ambas as Guerras Mundiais. Dá ao leitor uma boa compreensão dos debates que envolveram cada classe de destruidor e levaram às suas características individuais.


USS Abbot DD-629 (1942-1974)

Solicite um pacote GRATUITO e obtenha as melhores informações e recursos sobre mesotelioma entregues a você durante a noite.

Todo o conteúdo é copyright 2021 | Sobre nós

Advogado de Publicidade. Este site é patrocinado pela Seeger Weiss LLP com escritórios em Nova York, Nova Jersey e Filadélfia. O endereço principal e o número de telefone da empresa são 55 Challenger Road, Ridgefield Park, New Jersey, (973) 639-9100. As informações neste site são fornecidas apenas para fins informativos e não se destinam a fornecer aconselhamento jurídico ou médico específico. Não pare de tomar um medicamento prescrito sem primeiro consultar o seu médico. A suspensão de um medicamento prescrito sem o conselho do seu médico pode resultar em ferimentos ou morte. Os resultados anteriores da Seeger Weiss LLP ou de seus advogados não garantem ou prevêem um resultado semelhante com relação a qualquer assunto futuro. Se você é um detentor legal de direitos autorais e acredita que uma página deste site está fora dos limites de "Uso justo" e infringe os direitos autorais de seu cliente, podemos ser contatados a respeito de questões de direitos autorais em [e-mail & # 160protegido]


Hoàn tất việc chạy thử máy huấn luyện dọc theo bờ biển Califórnia, Hugh W. Hadley cùng tàu sân bay hộ tống HMS Ranee D03 của Hải quân Anh lên đường đi Saa kanhi Chân Cung vào ngà ny 21 21 ngày 27 tháng 2, chiếc tàu khu trục lại khởi hành đi Ulithi tám ngày sau đó nhằm chuẩn bị cho cuộc đổ bộ tiếp theo lên Okinawa. Nó lên đường vào ngày 25 tháng 3 cùng một đội bao gồm nhiều tàu đổ bộ LST và tàu hộ tống, đi đến ngoài khơi Okinawa vào ngày 31 tháng 3.

Trong đêm đó, Hugh W. Hadley dẫn đầu đội tàu LST hướng đến bãi đổ bộ, bắn rơi một máy baía đối phương tấn công trên đường đi, hộ tống đn bãi đổ bộ, bắn rơi một máy baía đối phương tấn công trên đường đi, hộ tống đo sn tàu đi đếnián tàu đi đếniá và Thiết bị vào sáng SOM ngày D 1 tháng 4. Sau djo nó DJAM Trach Tuan tra Chong Tàu Ngam bên ngoài khu VUC van Chuyên, VA DJAM Nhiệm Thêm vai tro phòng không khi Tran chiến trên bộ TIEP dien, cho đến ngày 4 tháng 4, khi nó HO Tống Các Tàu van Tai Rong cais tro lại Saipan, đến NOI vào ngày 14 tháng 4. Tuy Nhien, chiếc Tàu khu TRUC nhanh Chong phai ROI Saipan DJE cais tro lại Okinawa, đến NOI vào ngày 27 tháng 4, tiếp tục vai trò tuần tra chống tàu ngầm và phòng không. Nó đã đánh TRA nhiều đợt không KICH, Cúu VOT một phi công bị Ban ROI, VA đã PAC bên homem Tàu khu TRUC castanho DD-546 vào ngày 1 tháng 5 DJE Chuyên giao Thiết bị Liên Lạc trước khi DJAM Nhiệm Thêm vai tro dẫn đường cho máy bay tiêm kích làm nhiệm vụ tuần tra chiến đấu trên không CAP bảo vệ cho olực lượng đặc nhiệm.

Faça thiếu hụt tàu khu trục làm nhiệm vụ cột mốc radar canh phòng, Hugh W. Hadley được điều sang vai trò này vào ngày 10 tháng 5, khi nó tham gia cùt mốc radar canh phòng, Hugh W. Hadley. trạm canh phòng cách Okinawa 15 dặm 24 km về phía Tây. Ngay sáng sớm ngày hôm sau, nó đã bắt đầu dẫn đường cho máy bay tiêm kích làm nhiệm vụ CAP ngăn chặn các đợt không kích của đối phương. Trong gần hai giờ vào sáng ngày 11 tháng 5, Hugh W. Hadley và Evans bị tấn công ác liệt và liên tục bởi khoảng 150 máy bay Kamikaze, phải cơ động ở tốc độ cao đểhi tránh má ni rơ cao đểhi tránh má nắni rơ bn và dẫn đường cho không quân đánh chặn.

Sau khi Evans bị đánh trúng nhiều cú và chết đứng giữa biển lúc 09 giờ 00, Hugh W. Hadley phải đơn độc chống trả các cuộc tấn công. Lúc 09 giờ 20 phút, nó bị 10 máy bay đối phương tấn công đồng thời ở phía trước mũi và phía đuôi tàu. Nó bắn rơi cả 10 kẻ tấn công, nhưng phải chịu đựng thiệt hại do những cú đánh trúng. Một quả bom đánh trúng đuôi tàu, một quả bom baía có người lái tự sát Yokosuka MXY-7 Ohka và hai máy baía Kamikaze đã đâm trúng lườn tàu, trong khi các pháo thủ trên tàu hết đạn. Cuối cùng khi tất cả các đợt tấn công đã kết thúc, mọi người được lệnh rời tàu lên các xuồng cứu sinh, ngoại trừ một nhóm nòng cốt 50 người ở lệi hậng ct 50 người ở lệi hậm. Cho dù buồng động cơ ngập nước và bị thủng nhiều lổ, đội kiểm soát hư hỏng vẫn giữ cho con tàu nổi được, và sau đó được kéo về Ie Shima.

Cuộc tấn công đã cướp đi sinh mạng của 30 thành viên thủy thủ đoàn. Trong trận này, Hugh W. Hadley đã bắn rơi khoảng 23 máy bay đối phương và trợ giúp vào việc tiêu diệt nhiều chiếc khác. Sau khi được sửa chữa tạm thời, con tàu được kéo đến Kerama Retto vào ngày 14 tháng 5, nơi lườn tàu được sửa chữa bởi nhan sự từ chiếc tàu sửa chữa Zaniah AG-70. Nó tiếp tục được kéo đến vịnh Buckner, Okinawa, đi vào một ụ nổi do chiếc tàu kéo Avoyel ATF-150 kéo đi vào ngày 15 tháng 7, và sau 20 ngyù sửa chữa chữcá, và sau 20 ngyù sửa chữa chữcá 199 kéo quay trở về Hoa Kỳ ngang qua Trân Châu Cảng.

Chịu đựng thời tiết xấu trên đường đi, cuối cùng Hugh W. Hadley cũng về đến Xưởng hải quân Hunters Point, Califórnia vào ngày 26 tháng 9. Con tàu được xem là hư hại quá mức có thể sửa chữ hi c có thể sửa chữ xuất biên chế vào ngày 15 de 12 de 1945. Nó được bán cho hãng Walter W. Johnson Co. em São Francisco vào ngày 2 de 09 de 1947 để tháo dỡ.


Mục lục

Abade được đặt Luon tai Xuong Tàu của pendurar banho Iron Works Õ banho Maine vào ngày 21 tháng 9 năm 1942. Nó được Hạ Thủy vào ngày 17 tháng 2 năm 1943 được djo đầu Boi bà benevolência Abbot Fletcher, cháu Nội Thiệu Tuong Abbot và nhập Biên chế tại Xưởng hải quân Boston vào ngày 23 tháng 4 năm 1943 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung tá Hải quân Chester E. Carroll.

Thế Chiến II Sửa đổi

Abade hoàn tất việc trang bị tại Boston, Massachusetts vào ngày 13 tháng 5 năm 1943, khi nó trình diện để phục vụ cùng Tư lệnh Khu trục, Hạm đội Đại Tây Dương. Nó tiến hành chạy thử máy huấn luyện ngoài khơi Casco Bay, Maine cho đến ngày 18 tháng 6, rồi trong ba tháng tiếp theo đã phục vụ hộ tống cho các tàu chiến lớn ln hàn hn. Vào ngày 10 tháng 9, nó rời vùng biển Nova Inglaterra đểi cantou Mặt trận Thái Bình Dương, băng qua kênh đào Panamá vào ngày 16 tháng 9, và sau một chặng dừng tiắn tạc Dương, băng qua kênh đào Panamá vào ngày 16 tháng 9, và sau một chặng dừng tiắn tại Trc San Diego, Califórnia ngày 28 tháng 9. Chiếc tàu chiến đi đến quần đảo Hawaii vào đầu tháng 10, bắt đầu huấn luyện. Tuy nhiên, một tai nạn va chạm với tàu sân bay hạng nhẹ Cowpens vào ngày 18 tháng 10 buộc nó phải đi vào Xưởng hải quân Trân Châu Cảng để sửa chữa, kéo dài mất gần hai tháng. Cuối cùng chiếc tàu khu trục trở ra khơi vào ngày 10 de 12, tiếp nối hoạt động huấn luyện.

1944 Sửa đổi

Đến giữa tháng 12, Abade roi Trân Châu Cang DJE Hướng cantou Quan Đảo Ellice, đi đến Funafuti vào ngày 26 tháng 12. Các HOAt động HUAN Luyen và Bảo Trì kéo dài cho đến đầu tháng 1 năm 1944. Djen cuối tháng, nenhuma gia nhập đối đặc Nhiệm 50,15, đơn vị được phối thuộc cùng Lực lượng Đặc nhiệm 58 cho chiến dịch chiếm đóng quần đảo Marshall. Nhiệm vụ được giao cho đối đặc Nhiệm từ ngày 29 tháng 1 đến ngày 17 tháng 2 là CAT đứt con Đường TAT Giua Wotje và Taroa nham NGAN Chan binh linh và không quân tai DjAy HO tro cho Luc lượng Luc quân Nhât Bản TRU Đồng tai Majuro, Kwajalein và Eniwetok. Chiếc tàu khu trục tham gia cùng các tàu tuần dương hạng nặng Chester (CA-27), Salt Lake City (CA-25) và Pensacola (CA-24) cùng năm tàu ​​khu trục khác trong việc thường xuyên bắn phá các đảo san hô để giữ chân binh lính và máy bay đối phương. Nó tiếp tục nhiệm vụ này cho đến ngày 12 tháng 2, khi nó bắt đầu tuần tra giữa Majuro và Kwajalein.

Đến giữa tháng 3, Abade được điều về khu vực Tây Nam Thái Bình Dương, làm nhiệm vụ hộ tống các đoàn tàu vận tải đi lại giữa phía Nam Sud quần đảáco Solomon và cũng và mn ti đoàn tàu vận tải đi lại giữa phía Nam Sud quần đảáco Solomon và cũcg và mcne v Guinn tải đi lại giữa phía Nam Sud quần đảáco Solomon và cũn cng vịnh Miliest. Đến giữa tháng 4, nó tham gia hộ tống cho Đội đặc nhiệm 78,2, một đội tàu sân bay hộ tống hình thành chung quanh các chiếc Mar de Coral (CVE-57), Corregidor (CVE-58), Baía de manila (CVE-61) và Natoma Bay (CVE-62). Chiếc tàu khu trục đã bảo vệ các tàu sân bay khỏi các nguy cơ bị tấn công từ trên không và bởi tàu ngầm Nhật Bản, trong khi máy bay của chung hỗ trợ cên cú Bênia cú Bienia Bienia chung hỗ trên không và bởi tàu ngầm Nhật Bản, trong khi máy bay ca chung hỗ trợ cên cú Bênia cuờnia A Holanda trong khi bên bien bienia bienia Nova Guiné. Đội đặc nhiệm 78,2 hoàn tất nhiệm vụ này vào ngày 5 tháng 5, nhưng chiếc tàu khu trục vẫn tiếp tục tháp tùng các tàu chu sân bay hộ tống cho đếnùng cho đếnhá ng khu trục vẫn tiếp tục tháp tùng các tàu sân bay hộ tống cho đếnùng cho đếnhá ng khu nheng 5 thánùnung đảo New Hebrides, và đi đến Espiritu Santo vào ngày 12 de 5.

Trong bốn tuần lễ tiếp theo, Abade được bảo trì thường lệ và hoạt động huấn luyện ngoài khơi Espírito Santo. Sang đầu tháng 6, nó quay trở lại khu vực Trung tâm Thái Bình Dương cùng các tàu sân bay hộ tống và các tàu khu trục khác. Lực lượng ghé qua Kwajalein thuộc quần đảo Marshall cho những chuẩn bị sau cùng trước cuộc tấn công lên Saipan. Vào ngày 12 tháng 6, nó rời vũng biển Kwajalein cùng Đội đặc nhiệm 53.7, đội tàu sân bay được hình thành chung quanh các tàu sân bay hộ tống Sangamon (CVE-26), Suwannee (CVE-27) và Chenango (CVE-28). Lực lượng đi đến quần đảo Mariana vào ngày 16 tháng 6, và trong khi máy baia của đội hỗ trợ trên không cho lực lượng tấn công lên Saipan và sau đó lên kên Guam, cò và tu khu ng Guam, cò và tu khu ng baía de cho các tàu sân. Đội đặc nhiệm tiếp tục ở lại ngoài khơi bãi đổ bộ trong khi diễn ra Trận chiến biển filipino, nơi Lực lượng Đặc nhiệm 58 hầu như tiêu diệt khô b.Khoảng một tuần sau, vào ngày 26 de maio, Abade Cùng Hale (DD-642) tham gia bắn rơi một máy bay ném bom Mitsubishi G4M "Betty" đối phương. Trong suốt tháng 7, nó tiếp tục hộ tống các tàu sân bay trong khi máy bay của chung bắn phá các mục tiêu tại Saipan và Guam, hỗ trợ cho lực lượng tấn công trên bộ.

Vào đầu tháng 8, Abade quay trở về Trân Châu Cảng để sửa chữa, nghỉ ngơi và huấn luyện. Em ngày 28 tháng 8, nó bắt đầu chuẩn bị cho chiến dịch đổ bộ tiếp theo, hoàn tất việc huấn luyện vào giữa tháng 9, rồi khởi hành từ Havaí vào ngày 15 thánh từ Hawaii vào ngày 15 tháng. Đi ngang qua Eniwetok, nó đi đến đảo Manus thuộc quần đảo Almirantado vào ngày 3 tháng 10, tiếp nối các hoạt động huấn luyện tại Manusac cho đến quần đảo Almirantado vào ngày 3 tháng 10, tiếp nối các hoạt động huấn luyện tại Manusac cho đến tn ngày 14 thunng đếnia cđườni ningi tunging 10, kmia cđườni nngi nng công lên Leyte thuộc quần đảo Philippine. Nó đi đến ngoài khơi bãi đổ bộ vào ngày 20 tháng 10, làm nhiệm vụ tuần tra phòng không và chống tàu ngầm tại khu vực vận chuyển. Cho dù đội của nó chịu đựng những cuộc không kích lẻ tẻ của đối phương, chỉ có một máy baia ném bom hai động cơ tiếp cận trong tầm bắn những khẩu pháo phòủng khong khẩu pháo phòủng kong. Chiếc tàu khu trục cũng trợ giúp lực lượng trên bờ khi bắn pháo sáng ban đêm và bắn phá quấy rối đối phương tại khu vực phụ cận Dulag.

Sáng ngày 21 tháng 10, Abade rút lui khỏi Leyte để hộ tống một đội tàu vận tải đi Hollandia. Nó đi đến cảng Nova Guiné này vào ngày 26 tháng 10, và ở lại đây cho đến ngày 2 tháng 11, khi nó lên đường cùng một đội tàu vận tải hướng đến Morotai thuộcía Bucu Lan n Morotai thuộcía Bucu Tung đến Lan Morotai thuộcía Bucu n Morotai thuộcía Buci n Morotai thuộcía Buci đến Morotai Thuộcía Buci Lan n Morotai Thuộcía Bciộn Morotai thuộcía Bci. (nay là Indonésia). Đi đến Morotai ba ngày sau đó, nó ở lại đây trong năm ngày, vào giai đoạn mà đối phương thường xuyên không kích xuống sân bay Morotai vào ban đêm, nà nà tnac.

Tuy nhiên, tình hình khác đi khi Abade lên đường cùng một đội tàu hướng đến Leyte. Khi lực lượng tiếp cận Filipinas, không quân Nhật Bản đặt căn cứ trên đất liền bắt đầu các cuộc quấy rối liên tục cả ngày và đêm. Vào ngày 13 de 11, một chiếc Nakajima B6N "Jill" đã phóng một quả ngư lôi vào giữa đội hình các tàu vận tải nhưng không trung đích tàu đổ bộ Catskill đã bắn rơi kẻ tấn công khoảng 1.000 jardas (910 m) phía trước Abade. Sau khi thả neo nhiều ngày ngoài khơi Dulag, nơi nó bắn hỏng một chiếc Yokosuka D4Y "Judy" bằng pháo 5 polegadas, con tàu lên đường đi nà Holanda vào ngánga 11 tháo ngá 11, đi ngyảc Yokosuka D4Y "Judy" bằng pháo de 5 polegadas, con tàu lên đường đi nà Holanda vào ngángá 11, đi ngáng 11 tháng 11, đi ngánga 29 thánga , và ở lại đây trong gần một tháng. Em 23 de agosto de 12, nó lên đường đi Filipinas cùng một tàu chở hàng và ở lại Leyte cho đến đầu năm mới.

1945 Sửa đổi

Sau khi được bảo trì và tiếp liệu, Abade khởi hành vào ngày 2 tháng 1 năm 1945 cùng Đội đặc nhiệm 77,4, một đội đặc nhiệm tàu ​​sân bay hộ tống, để tham gia cuộc đổ bộ lên vịnh Lingayen. Nó đảm nhiệm việc bảo vệ cho Đội tàu sân bay San Fabian dưới quyền Chuẩn đô đốc Felix Stump, và trong hành trình từ Leyte đến Lingayen, đội Kamikaze má cúng cúng cúng cc chịu cng cng. Vào ngày 4 tháng 1, một chiếc đã đâm trúng tàu sân bay hộ tống USS Ommaney Bay (CVE-79), khiến nó hư hại nặng đến mức phải bỏ lại và phải đánh đắm bằng ngư lôi từ tàu khu trục Queimaduras.

Em ngày 6 tháng 1, lực lượng được tách ra thành các đơn vị tương ứng: Đội Lingayen và Đội San Fabian. Abade đảm nhiệm phòng không và chống tàu ngầm cho Đội San Fabian trong khi máy bay từ tàu sân bay tiến hành ném bom và bắn phá chuẩn bị, rồi từ ngày 9 tháng 1 bắt đầu lên trực trực trựpờ. Vai trò này, ba gồm hỗ trợ cho các cuộc đổ bộ lên San Felipe và Nsugbu, kéo dài cho đến ngày 31 tháng 1, khi nó rời vịnh Lingayen cùng các tàu sân bay để hướng đến Mindoro.

Sau một tuần lễ làm nhiệm vụ tại vịnh Mangarin, Mindoro, Abade lên đường đi vịnh Subic hộ tống các tàu sân bay. Từ căn cứ này nó tham gia cùng các tàu sân bay để hỗ trợ choh các cuộc tấn công lên các đảo trong vịnh Manila: Corregidor, El Fraile, Carabao và Caballo. Bản thân nó đã phá hủy một số thủy lôi chung quanh Corregidor và bắt giữ ba binh lính Nhật Bản tìm cách bơi từ Corregidor cantou Bataan. Sau khi lính nhảy dù để bộ lên Corregidor vào ngày 15 tháng 2, con tàu đã bắn hỏa lực hỗ trợ theo yêu cầu và bắn pháo sáng ban đêm.

Vào ngày 17 de 2, Abade quay trở lại vịnh Subic cho một tuần lễ tiếp liệu và bảo trì trước khi lên đường đi Palawan vào ngày 24 tháng 2. Nó cùng các tàu tuần dương hạng nhẹ Denver (CL-58), Cleveland (CL-55), Montpelier (CL-57) và ba tàu khu trục khác hỗ trợ cho cuộc tấn công của các đơn vị thuộc Sư đoàn 41 Bộ binh lên Puerto Princesa, cảng chính của Palawan. Cuộc đổ bộ diễn ra suôn sẻ mà không cần sự pode thiệp hải pháo từ các tàu chiến, và họ quay trở về vịnh Subic cùng ngày hôm đó. Chiếc tàu khu trục ở lại vịnh Subic để bảo trì cho đến ngày 4 tháng 3, khi nó tham gia một lực lượng tuần dương-khu trục khác để tấn công lên Zamboanga, Mindanao. Tại đây, nó hoạt động như tàu hỗ trợ hỏa lực cho các tàu quét mìn cũng như cho lực lượng trên bờ. Vào ngày 11 tháng 3, nó tuần tra gần đảo Basilan về phía Nam bán đảo Zamboanga, tiêu diệt các sàn lan đối phương bằng hải pháo. Nó hoàn tất nhiệm vụ tại khu vực Mindanao vào ngày hôm sau, lên đường cais trở về Luzon, và về đến vịnh Subic vào ngày 17 tháng 3.

Sau một tuần lễ được bảo trì và tiếp liệu, Abade tiếp nối các nhiệm vụ nhằm giải phóng phần còn lại của quần đảo filipino còn do Nhật Bản chiếm giữ. Nó rời vịnh Subic vào ngày 24 tháng 3 cùng một lực lung tuần dương-khu trục để tấn công lên Cebu thuộc nhóm quần đảo Visayas. Hai ngày sau, con tàu bắn phá chuẩn bị lên bãi đổ bộ khoảng 4 dặm (6,4 km) về phía Tây thành phố Cebu, trước khi lực lượng đổ bộ lên bờ lúc khoảng 08 giờ 30 pht. Chiếc tàu khu trục sau đó chuyển cantou bắn pháo theo yêu cầu và bắn pháo quấy rối. Từây nó tiếp tục đi đến vịnh San Pedro, Leyte, hộ tống một nhóm hỗn hợp các tàu đổ bộ LCM và LCI. Nó ở lại vịnh San Pedro cho đến hết tháng 3 để bảo trì, và trong phần lớn tháng 4, nó được phối thuộc cùng Tư lệnh Tiền phương biển Filipino cho một loạt các chu nhi nn vân sn vân vânn.

Vào ngày 24 de 4, Abade quay trở lại dưới quyền chỉ huy của Tư lệnh Lực lượng đổ bộ 7, và di chuyển đến cảng Cebu để hoạt động như một tàu hỗ thhỏa lực choing đổ bộ 7, và di chuyển đến cảng Cebu để hoạt động như một tàu hỗ th hỏa lực cho đến đầu tháà 5 trng vàng 5 ng. được cho là điểm tập trung quân Nhật tại Nailon Point gần làng Tobagan, Cebu. Từ đây con tàu di chuyển dọc bờ biển về phía cảng Cebu, bắn phá các mục tiêu dọc đường đi, và lặp lại nhiệm vụ này ba ngày sau đó thc trước khi khởi hành 5 Mind trước khi khởi ng Cebu To Trước khi khởi Cebu hành 8 nó tham gia cuộc đổ bộ lên vịnh Macajalar trên đảo Mindanao, tham gia bắn phá chuẩn bị vào sáng sớm ngày 10 tháng 5, một việc tỏ ra không cần thiết vì lực lược gng quânn cing. Con tàu tiếp tục ở lại khu vực phụ cận cho đến ngày 14 tháng 5, sẵn sàng bắn pháo hỗ trợ khi cần thiết. Nó lên đường quay trở lại vịnh San Pedro và ở lại đây trong ba tuần, tham gia tuần tra và hộ tống vận tải tại khu vực miền Nam Filipinas, rồi trải qua một đợt bảo trong lte trong.

Abade trình diện để phục vụ cùng Đệ Tam hạm đội vào ngày 12 tháng 6, và được phân về thành phần hộ tống các tàu sân bay nhanh thuộc Đội đặc nhiệm 38.3. Lực lượng khởi hành từ vịnh Leyte vào ngày 1 tháng 7, đi đến khu vực hoạt động về phía Đông các đảo chính quốc Nhật Bản. Trong khi máy bay tàu sân bay không kích xuống vùng đất nhà đối phương, nó và các tàu hộ tống chủ yếu làm nhiệm vụ bảo vệ phòng không và chống tàu ngm. Tuy nhiên nó cũng trực tiếp tham gia tấn công trong hai lượt. Vào xế trưa ngày 14 tháng 7, Đơn vị Đặc nhiệm 34.8.1, một lực lượng đặc biệt bao gồm các thiết giáp hạm Dakota do Sul (BB-57), Indiana (BB-58) và Massachusetts (BB-59), các tàu tuần dương hạng nặng Quincy (CA-71) và Chicago (CA-136), Abade cùng tám tàu ​​khu trục khác được cho tách khỏi thành phần hộ tống của Lực lượng Đặc nhiệm 38, và đã tiếp cận gần bờ ở phía Bắc đảo Honshū gần thànhố Kamanhố. Trong sáu lượt bắn phá, họ đã bắn hơn 2.300 quả đạn pháo đủ các cỡ vào nhà máy của hãng Obras de ferro do Japão tại đây. Một nhiệm vụ tương tự thứ hai đã đưa Đơn vị Đặc nhiệm 34.8.1 cais trở lại bờ biển Honshū tại Hamamatsu vào ngày 29 tháng 7.

Vào ngày 8 de 8, Abade được điều cantou đối đặc Nhiệm 35,4, bao GOM một đối Tuan Dương và một Hải đối khu Truc, với Nhiệm vụ điều tra XAC minh Nhung mục Tieu Tàu Noi von được Bao cáo cách đối hình Luc lượng Chính khoảng 63 Dam (101 km) . Đang khi di chuyển với tốc độ 32 kn (59 km / h), chân vịt và một phần trục chân vịt bên mạn phải con tàu bị tách rời ngay phía trước vòng bi trục phía sau. Hu Hai đã Khien chiếc Tàu khu Truc Phai gia nhập lại đối hình Chính, và con Tàu Van HOAt động được Nhung chỉ với TOC độ Toi Dja 23 kn (43 km / h), duy Trì VI trí trong đối hình Chính. Khi tàu khu trục Borie (DD-704) bị một máy bay Kamikaze đánh trúng vào ngày hôm sau, Abade đã trợ giúp và hộ tống Borie đi đến cặp bên mạn tàu bệnh viện Resgate (AH-18) để di tản những người bị thương, rồi đi đến Saipan để sửa chữa.

Các con tàu đi đếi đến Saipan vào ngày 17 tháng 8, hai ngày sau khi Nhật Bản đầu hàng kết thúc cuộc xung đột. Abade đi vào ụ tàu tại đây để sửa chữa, nhưng hư hỏng của nó nghiêm trọng buộc phải quay trở về Hoa Kỳ để khắc phục. Con tàu đi ngang qua Havaí để quay về Xưởng hải quân Puget Sound, về đến Bremerton, Washington vào đầu tháng 9, và sau khi sửa chữa xong, nó trình diện Tư lệnh đội San Diego thuộc Hạnđểng bn Dn Dng n Dung Bn Dng n Dung 9 hoạt động. Nó được cho xuất biên chế vào ngày 21 de maio de 1946 và neo đậu tại San Diego.

1950–1959 Sửa đổi

Abade bị bỏ không trong thành phần dự bị trong gần năm năm, cho đến khi Chiến tranh Triều Tiên nổ ra vào mùa Hè 1950 làm gia tăng nhu cầu về tàu chiến hoạt động trongac hạm. Nó được cho nhập biên chế trở lại vào ngày 26 tháng 2 năm 1951, và trải qua ba tháng tiếp theo được cải biến và hiện đại hóa trong Xưởng hải quân Mare Island. Chiếc tàu khu trục ra khơi vào ngày 1 tháng 6, nhưng không đi cantou khu vực chiến sự tại Triều Tiên mà được điều cantou vùng bờ Đông Hoa Kỳ. Nó băng qua kênh đào Panama vào cuối tháng đó để đi đếi đến cảng nhà mới tại Newport, Rhode Island. Trong thời gian còn lại của năm 1951, nó được sửa chữa tại Xưởng hải quân Filadélfia và tiến hành huấn luyện ôn tập tại vịnh Guantánamo, Cuba. Chiếc tàu khu trục trải qua ba tháng đầu năm 1952 chuẩn bị cho lượt bố trí đầu tiên sang khu vực Địa Trung Hải cùng Đệ Lục hạm đội. Nhiệm vụ bắt đầu vào tháng 4 và kết thúc khi nó quay trở về Newport vào tháng 10. Trong gần hai năm tiếp theo, con tàu hoạt động từ Newport trong tà nhiệm vụ huấn vào tháng 10. Trong gần hai năm tiếp theo, con tàu hoạt động từ Newport trong tà nhiệm vụ huấn chốn luận, thpn.

Abade lại khởi hành từ Newport vào ngày 1 tháng 6 năm 1954 cùng Đội khu trục 242, cho một chuyến đi kéo dài bảy tháng vòng quanh trái đất. Đi ngang qua kênh đào Panamá, San Diego, Oahu và đảo san hô Midway, nó gia nhập Đệ Thất hạm đội tại Yokosuka, Nhật Bản và hoạt động tại khu vực Biển ông và e o biển cho bian 10 tháng 10, nó lên đường quay trở về Hoa Kỳ ngang qua Ấn Độ Dương, kênh đào Suez, Địa Trung Hải và Đại Tây Dương, ghé qua nhiều cảng dọc trên đường đi. Nó về đến Newport vào ngày 18 tháng 12, và ở lại khu vực này cho đến tháng 1 năm 1955. Vào tháng 2 và tháng 3, nó tham gia cuộc tập trận Springboard hàng năn tháng 1 năm 1955. Vào tháng 2 và tháng 3, nó tham gia cuộc tập trận Springboard hàng năn tháng năm tiến hành gong, Cuba tiến hành traynh gn về Newport, tiếp nối các hoạt động thường lệ tại chỗ, ngoại trừ một chuyến đi thực tập cho học viên sĩ quan kéo dài ba tuần vào tháng 8.

Vào đầu năm 1956, Abade đi vào Xưởng hải quân Boston để sửa chữa trong hơn bốn tháng. Nó rời xưởng tàu vào ngày 19 tháng 5, tiến hành huấn luyện ôn tập tại vùng biển Cuba cho đến tháng 6. Cantou tháng 7, nó cùng toàn Đội khu trục 242 được điều về Hản thc điều v. Đội khu trục 102. Con tàu trải qua một giai đoạn bảo trì cặp bên mạn một tàu tiếp liệu hoặc trong Xưởng hải quân Boston từ tháng 9 đến tháng 11, nhằm chuẩn bịc cho một. Đợt hoạt động bắt đầu vào tháng 11 năm 1956 và kéo dài cho đến tháng 2 năm 1957. Chiếc tàu khu trục quay trở về Newport vào ngày 22 tháng 2, và sau khi được cảo hpạ lt c co hpạ lt luyện. Trong mùa Hè, nó thực hiện chuyến đi huấn luyện học viên sĩ quan đến Rio de Janeiro, Argentina và Tây Ấn rồi cantou mùa Thu đã tham gia Chiến dịch Strikeback Tingi Dn cnng Khân tn tp trận cng Khân . Trong dịp này nó đã viếng thăm Belfast, Bắc Ireland và Chatham, Anh. Sau khi quay trở về vùng bờ biển Nova Inglaterra vào cuối tháng 10, nó tiến hành các hoạt động thường lệ từ Newport cho đến cuối năm.

Vào ngày 15 tháng 1 năm 1958, đi đến Xưởng hải quân Boston để được đại tu theo thường lệ và sau ba tháng sửa chữa và cải biến, nó trải qua một tháng tiếp theo huà khinam, Cuba Guiậnant. Con tàu quay trở lại Newport vào tháng 6, rồi khởi hành từ cảng này vào ngày 11 tháng 7 để hướng đến Annapolis, Maryland, nơi nó đón lên chou những hành từ cảng này vào ngày 11 tháng 7 để hướng đến Annapolis, Maryland, nơi nó đón lên chou những học viy sĩ quan thuâna Hc viên Hc viên K quan thuâna Hc Hc viên K quan thuâna Hch mùa Hè. Không lâu sau đó, Tổng thống Li Băng Camille Chamoun, đất nước vốn đang bị sa lầy trong cuộc cuộc nội chiến, đã yêu cầu sự trợ giúp của Hoa Kỳ để khô tực trật. Lực lượng đang hiện diện tại Địa Trung Hải đã được phát đến trợ giúp, và Abade cùng phần còn lại của Hải đội Khu trục 10 đã hộ tống các lực lượng đổ bộ đi đến đảo Vieques, và sau khi ghé qua San Juan, Porto Rico đã vượt Đại Tây Dương tung cing lung. Nó có những chặng dừng ng ngắn tại Gibraltar và Nápoles trước khi gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm 66, lực lượng tàu sân baía nhanh trực thuộc Đệ Lục hạm đội, tạiù vung Hingn Trong. Nó thả neo ngoài khơi Beirute, thủô Li Băng, hai tuần sau đó, phục vụ như tàu hỗ trợ hỏa lực cho binh lính Thủy quân Lục chiến và Lục quân hoạt động trên bờ. Khi tình hình căng thẳng lắng dịu vào cuối mùa Hè, chiếc tàu khu trục tham gia các hoạt động thường lệ cùng Đệ Lục hạm đội cho đến khi nó quay trở về Newport.

1959-1965 Sửa đổi

Sau khi quay trở về nhà, Abade tiếp nối các hoạt động thực tập tìm diệt tàu ngầm tại vùng biển Nova Inglaterra. Nó được điều động từ Hải đội Khu trục 10 cantou Hải đội Hộ tống 14 vào ngày 1 tháng 5 năm 1959, và đảm nhiệm vai trò soái hạm của hải đội tuy nhi chi ngài ti tong chất phòng thủ nhiều hơn là tấn công. Cuối tháng Djo, con Tàu được đại tu Tai Xuong Hải quân Boston, Lago Hoan TAT công việc trong Xuong Tàu vào cuối MUA HE, và Trai qua tháng 9 tham gia các cuộc Huan Luyen na torneira Tai khu VUC Vinh Guantánamo và Đảo Culebra, Puerto Rico. No tháng 10, nó trở lên phía Bắc em Newport, tiếp nối các cuộc thực tập chống tàu ngầm.

Những nhiệm vụ này của Abade kéo dài trong thời gian còn lại của năm 1959 và suốt năm 1960. Vào ngày 5 tháng 5 năm 1961, nó tham gia một hoạt động thuộc kỷ nguyên vũ trụ khi được chỉ định hỗ h tng Liberdade tht gian còn 1961 , một chuyến bay dưới quỹ đạo trái đất trong khuôn khổ Chương trình Mercury, vốn đã cùng phi hành gia Alan B. Shepard Jr. hạ cánh xuống Đại Tây Dươngch về phía Đ cá mng (300 dặm km cángeral, Flórida, 500 km. Đến Thăng 9 năm 1961, nenhuma tro thành Tàu HUAN Luyen Thuoc Trường khu TRUC đặt pode Cu tai Newport, HOAt động DOC theo Vũng Bo Đông và Vũng Biển Tây Ấn nham HUAN Luyen nhung sĩ quan Tàu khu TRUC Tuong lai.

Nhịp điệu hoạt động huấn luyện thường lệ của Abade bị phá vỡ trong hai dịp vào năm 1962. Vào tháng 8, nó được phái đến vịnh Guantánamo để hoạt động như một tàu căn cứ phòng thủ do những biến động chính trị tại Haiti. Và vào tháng 10, nó tham gia những hoạt động phong tỏa Cuba do vụ Khủng hoảng tên lửa Cuba, khi Tổng thống John F. Kennedy phát hiện ra Liên Xô bố trí những tên lửa đạn đạo trên n. Sau khi kết thúc vụ khủng hoảng, chiếc tàu khu trục được tách khỏi nhiệm vụ này vào tháng 11, cais trở về Newport vào ngày 24 tháng 11 để tiếp nối nhiệm vụ huấn.

Abade tiếp tục vai trò nền tảng huấn luyện những sĩ quan tàu khu trục tương lai cho đến tháng 4 năm 1964. Vào ngày 14 tháng 4, nó rời Newport để đi Filadélfia cho nhiệùm vụ sau cuan Dự bị trong gần một năm, và là soái hạm cho Hải đội Khu trục Dự bị 30. Nó được cho xuất biên chế tại Filadélfia vào ngày 26 tháng 3 năm 1965, và đưa về i Dc Thuội Philadelphia trực thuội . Con tàu bị bỏ không trong một thập niên, trước khi được rút tên khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 1 tháng 12 năm 1974. Lườn tàu được bán cho hàngi hàngi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 1 tháng 12 năm 1974. Lườn tàu được bán cho hàngi bán cho hàngi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 1 tháng 12 năm 1974. Lườn tàu được bán cho hàngi bán cho hãngi de Boston, 1975, 8 de maio de Boston Metals Company tạngi Baltimore ngi nngi Boston Metals Company tạngi Boston, 1975, 8, Baltimore ngi Boston Metals Company tạngi Boston, 1975, 8 ngi Baltimore Metals Company tạngi Boston, 1975, 8 de Boston, 1974. tháo dỡ.

Abade được tặng thưởng tám Ngôi sao Chiến trận do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.


USS Abbot (DD-184) e USS Brazos (AO-4), Guantanamo Bay - História


1963-1965, graças a Jim Moore!
Meu nome é Jim Moore SN 2ª div. no bosque de 63 a 65, acho que posso ajudar com um pouco de história que você está procurando. Aqui vai, de 15 de fevereiro a 21 de maio de 1963, estivemos em uma botija chamada Solant Amity IV para a África, tivemos um contra-almirante como bandeira, um destacamento completo da Marinha, Banda, destacamento HU-4 e um destacamento ACU-2 e uma equipe UDT mas por alguma razão que não é mencionada no livro cruse. Nossa escolta era (2) DE's # 1028 & amp1030 que compunham o que foi chamado de Força-Tarefa 88, foi chamado de cruzeiro de boa vontade.

Nosso trânsito pelo canal de Suez na primavera de 1964 foi o primeiro de um navio de guerra estrangeiro desde a guerra egípcio-israelense de 1962-63. Nossos pilotos não eram pilotos de canal, mas sim da Inteligência Naval Egípcia. e um deles nos colocou em um banco de areia no lago Timsah, na direção sul. Tínhamos pilotos de verdade na viagem de volta sete semanas depois. Dick Schult

1964, retirado em parte do livro de cruzeiros. Agradeço a Jim Hamann por encaminhá-lo para mim!

Em 14 de janeiro de 1964, o & quotSpiegel Eagle & quot, como nosso navio é curiosamente conhecido, mais uma vez rumou para o mar aberto. Destino: Europa e Ásia Menor. O dia estava um pouco nublado, para dizer o mínimo e para os supersticiosos, o dia pode ter sido indicativo do cruzeiro. Depois de carregar a Unidade Dois do Beachmaster, fomos para Morehead City, na Carolina do Norte, para pegar um destacamento de fuzileiros navais.
Nossa primeira parada foi não programada na Base Naval dos Estados Unidos, nas Bermudas, para reparos de emergência em 20 de janeiro. A mudança de rota foi bem-vinda por outros motivos que não os reparos. Tivemos a oportunidade de nos recuperar de uma raridade no Atlântico - um ciclone. O clima semi-tropical e as belas paisagens foram apreciados por todos. Lojas, hotéis e locais de entretenimento estavam por toda parte.
O tempo passa, assim como os assuntos mundiais, e a nave mais uma vez se encontra nas periferias da história - como parte da Força-Tarefa Sessenta e Um. A Crise Cypress foi o imprevisto que mudou nossa programação. Como no Líbano e na crise cubana, o Spiegel Grove estava mais uma vez pronto e preparado. O navio estava estacionado na costa de Cypress. Em sessenta longos dias, conhecemos bem o Point Sirius, nossa área de cruzeiro.
A correspondência, força vital do militar, era sempre esperada com ansiedade, principalmente durante aqueles dias. O bingo se tornou um relaxante regular aos sábados e, ao mesmo tempo, fornecia fundos para instituições de caridade nacionais. Rumores de liberdade, ligações pelo correio e tudo mais começaram e desapareceram tão regularmente quanto o sol. Os dias foram repletos de exercícios de preparação, trabalho departamental, manutenção geral e planos para o nosso próximo porto livre, onde quer que seja.
Na manhã de 27 de fevereiro, partimos para a baía de Soudha, em Creta, para conferências, exercícios e relaxamento em festas na praia. Aqui estavam os navios da grande frota, desde porta-aviões e cruzadores a navios de abastecimento, destróieres e submarinos nucleares Skate. A visão era formidável e reconfortante. A força principal estava ancorada fora da boca da baía. Nossa força, o USS Fremont (APA 44), o USS Telfair (APA 210), o USS Muliphen (AKA 61), o USS Ashland (LSD-1), o USS Graham County (LST-1176), estava ancorado na baía.
Por fim, enquanto navegava ao redor de Point Sirius, a permissão foi concedida finalmente para a liberdade em Istambul, Turquia, encruzilhada da Eurásia. Os preparativos foram feitos e o navio estava a caminho. Mais uma vez, os assuntos imprevisíveis do mundo intercederam e voltamos para nossa patrulha Cypress. A situação em Cypress havia mudado para pior, com a Grécia e a Turquia ameaçando guerra imediatamente.
Na manhã de 22 de março, o Spiegel Grove retornou à Baía de Soudha, Creta, para coleta de correio antes de virar em direção ao Oriente Médio. Diretamente à frente do navio, erguiam-se colinas baixas, escuras e obscuras que pareciam sombras ao nascer do sol. Como se fosse um halo, montanhas cobertas de neve elevavam-se decorosamente acima das colinas, brancas e duradouras.
Após dois dias na Baía de Soudha, seguimos para Port Said, Egito e Oriente Médio. O tempo em Port Said no dia 25 estava fresco e claro, e o porto estava um hospício. Havia um grande número de navios de carga e petroleiros aguardando a entrada no Canal de Suez. O Spiegel Grove era o único navio de guerra. O navio entrou no canal às 02h10.
Chegamos à nossa primeira parada, os Grandes Lagos Amargos, às 8h30, onde ancoramos enquanto um comboio do norte passava. No extremo sul do canal encontra-se Port Suez.
Em 29 de março, entramos no porto franco de Aden por dois dias. A cidade de Aden fica na base de colinas vulcânicas e áridas. Os costumes, costumes e cultura dos árabes muçulmanos pareciam muito estranhos e às vezes confusos para nós. Os árabes não queriam ser olhados ou fotografados por causa de uma maldição do 'mau-olhado'. Partimos de Aden em 1º de abril sob céu quente, com destino a: Bahrein.
Spiegel Grove partiu do Bahrein em 9 de abril, com destino à Ilha de Kharg, Irã, e à Operação DELAWAR. Éramos o carro-chefe do vice-almirante Fatemi e sua equipe. Spiegel Grove dirigiu todas as operações anfíbias durante esta operação. O convidado de honra foi o próprio Xá do Irã.
Spiegel Grove ganhou as manchetes mundiais quando os destroços de uma aeronave comercial foram descobertos por nosso helicóptero, pilotado por MAJ R. Steed, USMC, Comandante do HMM-262.
Seguiu para Atenas e Nápoles. Enquanto em Nápoles, muitas das tripulações dos navios aproveitaram as visitas guiadas de 3 dias a Roma. Depois de Roma, a próxima parada foi Gênova, local de nascimento de Cristóvão Colombo. Aqui, muitos fizeram viagens turísticas à Riviera italiana.
Em 27 de maio, entramos no porto espanhol de Barcelona para uma estadia de dois dias e, em 29 de maio, Spiegel Grove partiu para Rota, na Espanha, para ser revivido pelo USS Donner (LSD-20). A liberdade da base foi concedida lá e o clube EM tornou-se bem familiarizado com a tripulação. De Rota, partimos para as cerimônias do 20º aniversário do Dia D em Cherbourg, França - uma pequena vila de pescadores na costa oeste da França.
Passamos 4 de junho nesta cidade tranquila. Em 5 de junho, rumamos para as praias da Normandia, onde nos encontramos com outros onze navios representando o Canadá, a Inglaterra e a França. Em 6 de junho, partimos para a Inglaterra.
Spiegel Grove entrou em Portsmouth em 7 de junho, a maior base naval da Grã-Bretanha. Isso fez com que todos se lembrassem de Norfolk, de volta para casa. As liberdades foram organizadas para Londres, onde a influência dos Beatles foi bastante perceptível. Em 10 de junho, tudo isso parou, quando o navio partiu para casa. Depois de 159 dias, estávamos voltando para casa. Os fuzileiros navais e seu equipamento foram descarregados em Morehead City, NC, e em 20 de junho as linhas foram amarradas ao píer em Little Creek, Virginia. Foi um longo percurso, mais de 30.000 milhas.

História do cruzeiro de 1964, graças a John Dew!
14 de janeiro de 64- Partida de Little Creek
16 de janeiro de 64-Morehaed City, N.C.
19 a 23 de janeiro de 64 - Bermudas
31 de janeiro de 64-Rota Espanha
27 de fevereiro a 1 de março de 64 - Baía Soudha, Creta
23 a 24 de março de 64 - Baía Soudha, Creta
26 de março de 64 - Port Said, Egito
26 a 27 de março de 64 - Canal de Suez
30 de março a 1 de abril de 64-Aden
7 a 9 de abril de 64 - Ilha do Bahrein, Golfo Pérsico
10 a 13 de abril de 64 - Ilha Khrag, Irã
14 de abril de 64-Genevah, Irã
15 a 16 de abril de 64 - Ilha Khrag, Irã
17-19 de abril de 64 - Ilha do Bahrein, Golfo Pérsico
24-27 de abril 64-Aden
2 de maio de 64- Canal de Suez
5 a 9 de maio de 64-Atenas, Grécia
11 a 18 de maio de 64 - Nápoles, Itália
19 a 22 de maio de 64-Santa Monza, Córsega
23-30 de maio de 64-Gênova, Itália
29-30 de maio de 64-Barcelona, ​​Espanha
30 de maio a 1 de junho de 64-Rota, Espanha
4-5 de junho de 64- Cherbourg, França
7 a 10 de junho de 64-Portsmouth, Inglaterra
18 de junho de 64-Morehead City, N.C.
19 de junho de 64 - Little Creek, VA
John Dew - ex-Lt.j.g., SC, USNR - Nov. 63-Jan. 65 a bordo do LSD-32

Mais sobre 1964, graças a Ray Wallace - OIC da Unidade de Apoio Logístico (Shore Party) do 2º Bn, 6º Mar Reg, 2º março Div

14/02/64 - colocado em Gitmo Bay e tinha liberdade de base.

2/15/64-Esquerda Gitmo dirigiu-se ao Panamá para socorrer o pessoal dos cruzeiros anteriores ao Caribe que foram enviados quando os panamenhos começaram a atirar na Zona do Canal. Nosso trabalho era evacuar os cidadãos americanos, se necessário.

19/02/64 - Chegada a Coca Sola, no Panamá (antiga Base de hidroaviões da Marinha no lado Atlântico).
Passamos a maior parte dos próximos 2 meses amarrados ao píer, exceto quando o navio iria para o mar para artilharia, engenharia e outros exercícios e exercícios. Quando estávamos no porto, era principalmente o cais e apenas a zona do canal.

4/10/64-Deixou o Panamá rumo a San Juan, Porto Rico

14/4/64-Chegou a San Juan. Todos se divertiram após 2 meses de confinamento. (?)

18/04/64- Esquerda San Juan rumo ao norte

21/4/64-Como nós, fuzileiros navais, não recebemos muito treinamento durante o cruzeiro, eles decidiram nos deixar pousar na praia de Onslow em Camp Lejuene. Algumas das esposas nos observaram caminhar até a praia. Meio bizarro.
1966-1967, graças a Dennis Corneau - ENQUANTO NO & quotTHE MED & quot EM 1966 ESTAMOS ENVOLVIDOS NA RECUPERAÇÃO DE UMA & quot BROKEN ARROW & quot (NUCLEAR WEAPON) FORA DA COSTA DAS PALERMIDAS ESPANHA. ESTA FOI A RECUPERAÇÃO ESTABELECIDA NO FILME ALGUNS ANOS ATRÁS, ENTRE CUBA GOODING E ROBERT DeNiro SALVAGE DIVING. EM UMA TRANSMISSÃO RECENTE NO CANAL DE HISTÓRIA SOBRE ESTE ASSUNTO, ELES MOSTRARAM UM BREVE FOTO DE & quot THE GROVE & quot
SUA FORMA E, CLARO, SEU ARCO Nº 32 ERA CLARAMENTE VISÍVEL.
TAMBÉM, DURANTE O VERÃO DE 67, ESTAMOS ENVOLVIDOS EM OUTRA "SETA QUEBRADA" NA ILHA MARAVILHOSA DE VIEQUES P.R. PASSAMOS 2 1/2 MESES PESQUISANDO O PISO DO OCEANO EM UM PADRÃO DE GRADE COM UM U.D.T. EQUIPE E FINALMENTE O SUB SUBMERSÍVEL DE WOODS HOLE, MA. O ALVIN. FOI MUITO DIFÍCIL FICAR EM SAN JUAN P.R. TODAS AS SEMANAS.

1966-1968, graças a Tony Lutostanski!
Julho de 1966 a setembro de 1966: Vieques, Roosvelt Roads, San Juan

Novembro de 1966 a maio de 1967: Med Cruise

Dezembro de 1967 - abril de 1968: Cruzeiro no Caribe: San Juan, St. Thomas, St. Croix, etc.
Fomos para a Base Naval Coca Solo no Panamá, mas nunca pelo canal para o Pacífico. Nós ficamos no Coco Sola por aproximadamente 4-7 dias então voltamos para as ilhas no Carib.

Essas foram as principais implantações, mas houve outras menores: ao todo, fomos ao Caribe nove vezes. Aos Açores e Lisboa durante dois meses.

1966-1968, obrigado a Dave Fitch, Jim Marsh, Ken Long e John McCarty por esta informação!

O NAVIO LEVOU UMA CARGA DE Fuzileiros Navais PARA O CANAL DO PANAMÁ PARA O TREINAMENTO NA SELVA QUE ESTAVA A CAMINHO PARA NAM. O SPIEGEL GROVE ANCOROU NO LADO ATLÂNTICO DO CANAL, MAS PODERIA IR À TERRA E PEGAR O TREM ATRAVÉS DA CIDADE. O NAVIO ESTAVA EM NOSSO CRUZEIRO REGULAR DE INVERNO NO CARIBE NO INVERNO DE 67-68 E REGRESSOU A PEQUENO CREEK APÓS DEIXAR OS Fuzileiros Navais NO PONTO DE CEREJA.

O Spiegel Grove visitou o Panamá no período de 67 a 68. De acordo com o livro 3-67 do Caribbean Cruise, o navio esteve no Panamá de 2 a 7 de fevereiro de 1968. Ele não transitou pelo canal, mas permaneceu no lado caribenho.

65 de novembro -? 66
San Juan, PR
Rosey Roads, PR
Granada, BWI
St. Thomas, VI
St. Croix, VI
Santo Domingo, República Dominicana

4 de novembro de 1966 - 11 de maio de 1967
Houve algum tipo de exercício de desembarque multinacional na costa da Espanha.
Portas de escala:
Nápoles, Itália. enquanto lá visitou Roma, Pompeia e Sordento, Itália
Veneza, Itália
Taranto, Itália
Crotone, Itália. enquanto lá foi para Atenas, Grécia e Patrais, Grécia
Valletta, Malta

De volta ao Caribe, dezembro de 1967 a março de 1968
San Juan, PR
Willemstad, Curaçao - Antilhas Holandesas
St. Thomas, VI
Panamá. o navio NÃO passou pelo canal.

O navio foi para New London, Conn. Woods Hole Institute, para recolher um Mini-sub & quotAlvin & quot para ajudar a localizar o & quotScorpion & quot, um submarino da Marinha dos EUA que desapareceu nas proximidades das Ilhas dos Açores.
Lisboa, Portugal
Quando voltamos para Little Creek, o Bosque Speigel foi para a doca seca.

1970, obrigado a Ken Purcell por esta informação!
Fizemos um cruzeiro no Atlântico Sul em janeiro-fevereiro de 1971. Éramos o navio de recuperação do Oceano Atlântico para a Apollo 14 Space Shot. Acho que ainda tenho algumas fotos daquele cruzeiro. Tínhamos uma maquete da cápsula espacial a bordo que costumávamos praticar se realmente precisássemos recuperar a cápsula. Claro, isso não aconteceu. O capitão desse cruzeiro foi George & quotGus & quot Kinnear. Ele era um capitão de pleno direito, o que achei interessante para um navio como aquele. Evidentemente, ele tinha algumas conexões & quothigher up & quot. Digo isso porque ele esteve a bordo por 1 a 2 meses, e a próxima coisa que sabemos é que estamos indo para o Atlântico Sul e para o Brasil. Vários de nós nos tornamos & quotShellbacks & quot naquele cruzeiro, incluindo ele. Ele partiu logo após nosso retorno a Little Creek. Acredito que seu alívio foi um Tenente Cdmr. Anderson, uma classificação mais adequada para um LSD. Alguns anos depois, vi o nome de Kinnear no noticiário. Ele era um almirante e comandante da Sexta Frota. Quando era capitão do Spiegel, ele se autodenominava Gator Gus. Ele era um personagem e tanto.

Como as memórias desse período da minha vida são um pouco nebulosas, pequenos boatos voltam para mim de vez em quando. Vou relatá-los a você quando o fizerem. Outra coisa de que me lembro é que quase afundamos na baía de Cheasapeake a caminho de um exercício na costa da Carolina do Norte. Acredito que os tanques de lastro no lado de estibordo se encheram e não puderam ser bombeados para fora. Isso foi depois do cruzeiro no Atlântico Sul e antes de partirmos em nosso Med Cruise em maio de 1971.
Janeiro a fevereiro de 1971, obrigado a James Gibson por esta informação!
12 de janeiro de 1971 - partiu de Little Creek, VA para a Apollo 14 South Atlantic Recovery Force
25 de janeiro de 1971 - Iniciação Shellback para todos os 'Pollywogs'
27 de janeiro de 1971 - Chegou a Recife, Brasil, para reabastecimento
28 de janeiro de 1971 - Parte de Recife, Brasil, para a posição de recuperação da Apollo 14 no Atlântico Sul
9 de fevereiro de 1971 - Chegada ao Rio de Janeiro, Brasil, para R & ampR
15 de fevereiro de 1971 - Parte do Rio de Janeiro, Brasil, para Little Creek, VA

1970-1973, obrigado a RM3 Michael Otec por esta informação!
Este foi o meu primeiro cruzeiro com o melhor da minha reflexão. Em 1971, o Spiegel Grove foi escolhido para ser uma nave reserva para a missão espacial Apolo 14 à lua. Fomos designados ao Atlântico Sul para o serviço. Havia oficiais da NASA a bordo, juntamente com uma cápsula espacial Appolo, um helicóptero e mergulhadores UDT. Não tenho certeza se os mergulhadores eram uma equipe Seal ou não, mas poderiam ter sido. Você sabe que esses caras não se misturam muito com a equipe, eles ficam praticamente para si mesmos. Nosso trabalho era que se algo desse errado e os astronautas tivessem que pousar no Atlântico em vez do Pacífico, seríamos designados para buscá-los. Jogávamos a cápsula no vapor d'água e fazíamos a recuperação. Desnecessário dizer que fizemos isso muitas e muitas vezes para treinar para garantir que nada desse errado. Na ponte tínhamos dois rádios em contato direto com a NASA, os quais ouvíamos e ouvíamos todos os detalhes da missão. Naquela época, estávamos em vigias de bombordo e estibordo, 12 de 12 de folga. Meu chefe me colocou na ponte e era minha responsabilidade manter os rádios discados para que nunca perdêssemos a comunicação. Bem, a missão correu como planejado e eles caíram no Pacífico, então não fomos chamados para a recuperação. Passamos cerca de cinco semanas sem nunca ver terra. Agora começa a parte divertida. Já que estávamos no Atlântico Sul, cruzamos o equador, o que me torna uma granada. A iniciação foi bastante brutal. Naquela época, um militar era propriedade do governo e eles podiam fazer o que quisessem com você, o que eles faziam. Como resultado desse processo, um dos membros da tripulação teve que ser transportado por via aérea para um hospital. Tivemos dois portos de escala durante aquele cruzeiro. O primeiro foi no Recifi Brasil. Ficamos dois dias lá. O segundo porto de escala foi o maior. Aportamos no Rio de Jenero por seis dias. Um pequeno pedaço de informação como um operador de rádio, eu estava a par de tudo que acontecia. Bem, no quinto dia de liberdade descobri que a Enterprise estava chegando ao porto. O engraçado é que não descobri através de uma mensagem oficial, mas através dos bares e donos de lojas, eles sabiam antes de nós. Com certeza, enquanto navegávamos para o mar, passamos pela USS Enterprise na baía.

1970-1974, obrigado a John Fodor por esta informação!
Fomos em um med de 6 meses. cruzeiro em 71. Também éramos um navio de apoio para as missões Apollo. Lembro-me de termos uma cápsula espacial fictícia a bordo com a qual praticamos. Isso poderia ter sido 72, mas não tenho certeza. Fomos até o sul do Brasil para esperar a nave espacial Apollo que estava voltando da missão lunar para atingir a água. Nunca atingiu nossa área. Depois de um longo mês de espera, passamos uma semana no Rio. Isso foi lindo. Saímos uma semana antes do Grande Carnaval. Fora isso, nós saltamos nas ilhas do Caribe. Também fizemos um cruzeiro de aspirantes, passamos pelo Canal do Panamá, estivemos nos estaleiros de Portsmouth por 6 meses para uma grande reforma e, em seguida, um cruzeiro de abate em Gitmo. Nosso navio foi atacado por um contratorpedeiro que saía do porto de Gitmo a toda velocidade. Abriu um buraco enorme a estibordo. O navio estava entrando na água, grandes bombas tiveram que ser instaladas de helicóptero. Pelo que eu me lembro, ninguém ficou ferido. Eu simplesmente não me lembro de datas. Na verdade, servi a bordo de abril de 70 a dezembro de 73. Vim direto do Boot Camp. Eu dirigi o Sail Locker enquanto estava a bordo. Meu pai era um ta i lor, então eu sabia costurar. Fiz coberturas para tudo o que pudesse ser coberto. Fiz o BM3 enquanto estava a bordo. Depois passei mais 2 anos nas reservas e fiz BM2.

1973, graças a Don Clark!
Eu era um chefe do hospital, o representante médico sênior a bordo. Fomos para Columbia e pegamos mais de um milhão de dólares em equipamentos médicos excedentes, commodities, livros, etc. e doamos para um centro médico de lá. Eu ainda tenho 2 panchos que tenho lá. De lá fomos para Aruba, San Juan Pureto Rica e para as Bahamas antes de voltar para casa. Essa foi uma turnê de 3 meses. Em seguida, levamos um contingente de Fuzileiros Navais 2nd Louies para Camp Lejune. As águas estavam muito agitadas para ter os desembarques que havíamos previsto. Este também foi um cruzeiro onde poderíamos trazer um membro da família. Meu filho Gary foi comigo. Comemoramos o Halloween a bordo e o capitão permitiu que eles "enganassem ou gostassem". Também tivemos um dia no mar para todos os dependentes quando no porto. Enquanto me preparava para um cruzeiro pelo Med, rompi um disco e fui transferido.
Se eu puder pensar em mais, vou passar adiante. Eu sei que nós também fomos para o Panamá, só não consigo me lembrar de detalhes, exceto por alguns dos peixes mais bonitos que alguns pegaram e nós cozinhamos na bagunça do Chiefs. Nós também fomos para Roosevelt Roads Pureto Rico. Desembarcamos tropas em Vieques, sentamos na costa e pescamos por 5 dias.

19 de maio de 1978, graças a Chuck Siedschlag!
Em 19 de maio de 1978, fomos ao GTMO para o RefTra e fomos expulsos porque não podíamos produzir água. Na verdade, na descida, chegamos a Mayport à meia-noite, por volta de 19 ou 20 de maio, para conseguir água. Entrou em uma caldeira, pelo que me lembro quando estávamos secos. Quando saímos do GTMO após sermos expulsos, alguém jogou (Take this Job and Shove It) no 1MC. Naturalmente, algum ADM de alto nível não gostou e nos mandou uma explosão!
Voltamos cerca de um mês depois e concluímos o RefTra.

8 de março de 198 1, obrigado a Ron Brunson!
Fomos acompanhados pelo USS Harry E. Yarnell (CG-17). Lembro-me disso porque meu pai era um ex-XO na década de 1960. Você deve se lembrar que aquele cruzeiro foi principalmente um evento diplomático de show the flag, onde entretemos a liderança de vários países insulares. O terço dianteiro do convés do poço foi coberto com madeira compensada de 1 polegada e pintado de cinza nebuloso como um local de festa com o equipamento USMC na popa como uma exibição estática.
Espero que isso ajude um pouco. Atenciosamente e obrigado pelas memórias !! Cdr Ron Brunson, USNR (aposentado)


LSD-32 NOTAS DE HISTÓRIA - 1971 A DEZ. 1973

Abril a outubro de 1971 - Med Cruise (faltando detalhes de abril, maio e junho) - muito obrigado a LTJgTerry Rich!

Em 3 de julho de 1971, o Spiegel Grove chegou a Brindisi, Itália, exigindo a ajuda de um rebocador para o cais apertado do porto. Nosso comandante na época era o capitão Forrest P. Anderson. A parte da tripulação que teve liberdade no dia 3 de julho apreciou a boa comida italiana e muito bom vinho. Um grupo de marinheiros jantou em um pequeno restaurante local, desfrutando de vários pratos de massa e seu quinhão de vinho para o jantar. Eles decidiram pedir sorvete de sobremesa, mas como não falavam bem italiano, o garçom entendeu que seu pedido de & quotSpumante & quot (sorvete) era & quotSpumante & quot e trouxe um amplo suprimento de vinho espumante (& quotSpumante & quot) para o consumo após o jantar .

A maior parte da tripulação teve liberdade no dia 4 de julho e desfrutou de uma esplêndida celebração do Dia da Independência na base da Força Aérea dos Estados Unidos em Brindisi (chamada de Estação Aérea de San Vito). Que boa hora para estar no porto para comer os bons e velhos cachorros-quentes e hambúrgueres americanos! A tripulação que estava na seção de serviço a bordo do navio teve a duvidosa honra de hospedar uma multidão de moradores e turistas (incluindo alguns estudantes universitários americanos) para passeios em nosso belo navio.Todas as seções de serviço eventualmente tiveram uma boa cota de liberdade, já que permanecemos no porto até a manhã de 7 de julho.

Partindo em 7 de julho de 1971, o Spiegel Grove estava a caminho até ancorar ao largo de Navplion, na Grécia, por alguns dias, junto com outros navios do esquadrão. Enquanto estava no ancoradouro, uma festa recreativa diurna (& quotbeer party & quot) na praia foi autorizada. Os barcos de Mike transportaram marinheiros, fuzileiros navais e muita cerveja para a praia. Como todos estavam felizes com a diversão, o sol e a cerveja, apenas um incidente indesejável ocorreu. Foi quando, por alguma razão desconhecida, um fuzileiro naval que provavelmente bebeu muitas cervejas chamou de capitão de fuzileiro por um nome claramente hostil, puxou um canivete e atacou o capitão. Alguns membros da tripulação do LSD-32 disseram que nunca viram um homem ser abatido tão rápido quanto o fuzileiro naval bêbado e o capitão acabaram em cima dele, segurando a faca que ele havia tirado, e chamaram a patrulha costeira, que já estavam apenas aparecendo devido à comoção.

Em 15 de julho de 1971, o LSD-32 partiu e ancorou no dia seguinte em Izmir, Turquia. Depois que a equipe experimentou a cultura, arquitetura, bazares de compras distintamente diferentes e até visitas à prisão feminina em Izmir, voltamos no dia 18. Após cinco dias de operações de rotina, incluindo duas noites novamente ancorado em Navplion, Grécia, o navio chegou a Nápoles, Itália, em 23 de julho.

A escala no porto de Nápoles (& quotNapoli & quot) foi a mais longa de todas durante o cruzeiro pelo Mediterrâneo - 14 dias - e um número muito pequeno da companhia do navio teve a sorte de ter suas esposas os encontrando lá. Os membros da tripulação passaram o tempo se divertindo com todos os tipos de diversão - principalmente diversão boa e saudável. Passeios turísticos, compras de souvenirs e evitar ou espantar os bandos de saqueadores de batedores de carteira de nove a quatorze anos eram comuns. Alguns marinheiros também pegaram trens para Roma (& quotRoma & quot) para visitar os famosos locais históricos localizados lá. Alguns foram ao cinema italiano, embora não conseguissem entender uma palavra do que era dito no filme. Outros iam para a base da OTAN em Nápoles e jogavam basquete ou faziam exercícios físicos no ginásio. Alguns de nossos marinheiros disseram que as experiências mais emocionantes e assustadoras que tiveram em Nápoles foram as viagens de táxi absolutamente loucas às quais milagrosamente sobreviveram!

Não surpreendentemente, ao deixar Nápoles em 6 de agosto, um mastro do capitão foi detido no mar naquele dia por certos homens que tiveram incidentes de má conduta enquanto estavam em Nápoles. Houve várias violações do toque de recolher, incluindo um marinheiro que se atrasou tanto que perdeu toda a vigília pré-designada enquanto estava no porto.

Adivinha? Após a maior escala no porto do cruzeiro Med de 1971, o Spiegel Grove teve o período mais longo durante o cruzeiro de operações no mar e operações anfíbias sem qualquer escala no porto - 24 dias. Após dois dias no mar, as operações anfíbias foram realizadas em Porto Scudo, Sardenha, durante quatro dias. Então, depois de levantar âncoras, alguns dias no mar foram seguidos por mais três dias de desembarques anfíbios em Porto Scudo. Os relógios noturnos de 16 a 17 de agosto de 1971 eram relógios especiais & quotsneak attack & quot, com nossos próprios SEALs trabalhando como oposição. Em andamento novamente em 18, 19, 20 e 21 de agosto, o LSD-32 ancorou durante a noite na Baía de Souda, Creta, apenas para partir novamente de 23 a 30 de agosto, e então ancorou em Palma de Maiorca em 31 de agosto.

Mallorca deve ser um dos portos favoritos de muitos marinheiros, com seu cenário panorâmico, praias e casas noturnas como & quotBarbarella, & quot & quotSgt. Pepper's, & quot & quotThe Guitar Center & quot e & quotDaisy. & Quot Houve até touradas - um espetáculo e tanto para os nossos homens desfrutarem.

Depois de seis dias inteiros em Maiorca, levantamos âncora no dia 7 de setembro. Um dia depois, ancoramos em Livorno, Itália, que fica a apenas alguns quilômetros ao sul de Pisa, onde ficava a famosa Torre Inclinada de Pisa. Camp Darby, uma pequena base do Exército dos EUA em Livorno tinha um clube, compartilhado por oficiais e alistados, que oferecia música ao vivo, incluindo cantoras surpreendentemente excelentes. Alguns marinheiros também aproveitaram o ginásio do Exército em Camp Darby durante os 12 dias em Livorno. No final da longa estada em Livorno, nosso navio estava quase ficando sem água doce. Faltavam cerca de dois dias para a nossa partida programada, então um acordo foi feito com o prefeito de Livorno para comprar água potável para ser levada ao nosso ancoradouro e fornecida ao navio. Bem, o barco de água não chegou até a tarde do dia 19 de setembro, e deveríamos partir no dia 20. Não há problema: os italianos bombearam água até que o abastecimento de água doce do Spiegel Grove estivesse cheio.

O Spiegel Grove arrancou no dia 20 de setembro, saindo de Livorno, na Itália. No início da manhã do dia 20, a maioria dos marinheiros descobriu o que alguns haviam descoberto na noite anterior: os italianos de Livorno bombearam água salgada direto do porto para nossos tanques de água doce! Na manhã do dia 20, o café foi feito em todo o navio sem saber com ÁGUA SALGADA! Em 20 de setembro de 1971, os homens a bordo do USS Spiegel Grove beberam (ou cuspiram ou vomitaram) o que poderia muito bem ter sido o PIOR CAFÉ da história da Marinha dos Estados Unidos! Isso é muito ruim. No dia seguinte ou depois, os banhos de água salgada também não foram nada agradáveis.

Depois de apenas um dia e meio no mar, o USS Spiegel Grove, junto com o USS Nashville (LPD-13), o USS Newport (LST-1179) e outro navio ou dois dentro do Phibron 6 chegaram em 22 de setembro a Barcelona, ​​Espanha para uma visita de seis dias. Uau, o serviço marítimo pode ficar melhor do que isso? Enquanto estavam em Barcelona, ​​os velejadores aproveitaram não só os passeios turísticos, mas também as casas noturnas como & quotPlaneta 2001, & quotPlazza Discoteque & quot e & quotBig Ben's & quot bar.

O Phibron 6 partiu de Barcelona em 28 de setembro de 1971. Após uma parada de quatro horas em Rota, Espanha, em 30 de setembro, o Spiegel Grove seguiu independentemente em direção aos EUA, chegando finalmente a Little Creek, VA em 10 de outubro de 1971.

10 OUT. a 14 NOV. 1971 - No porto, Little Creek, VA

15 de novembro a 19 NOV. 1971: No mar - operações locais em andamento exercício de reabastecimento em 18 de outubro.

20 de novembro 1971 a 02 de janeiro. 1972 - No porto, Little Creek, VA

03 JAN. 1972 a 14 de janeiro. 1972 - provavelmente nenhum registro disponível no porto, Little Creek, VA

15 JAN. a 30 JAN. 1972 - No porto, Little Creek, VA

31 JAN. a 11 de março de 1972 - sem registros ou notas em mãos

13 de março 1972 - ao lado do cais em Morehead City, NC para onload / offload.

15 MAR. a 11 de maio de 1972 - sem registros ou notas disponíveis - acredito que um cruzeiro pelo Caribe começou durante este período, possivelmente para GITMO e Vieques

12 de maio a pelo menos 14 de maio de 1972 - no mar para operações anfíbias

15 DE MAIO A 11 DE JULHO. 1972 - nenhum registro ou nota disponível - acredita que o LSD-32 estava no Caribe

12 de julho de 1972 - no mar, após paradas em Roosevelt Roads e St. Thomas, Ilhas Virgens

13 de julho de 1972 - descarregamento de fuzileiros navais e equipamentos em Morehead City, NC

14 de julho de 1972 - chegou a Little Creek, VA

15-16 JUL 1972 - no porto, Little Creek, VA

17-19 JUL 1972 - em andamento para exercícios de pouso do aspirante

20-23 de julho de 1972 - no porto, Little Creek, VA

24-27 JUL. 1972 - em andamento para levar uma equipe de desembarque da Marinha para Morehead City, NC

28-30 JUL. 1972 - nenhum registro ou nota disponível

31 JUL. 1972 - no porto, Little Creek, VA

01 AGO. a 03 NOV. 1972 - nenhum registro ou nota disponível

04 de novembro a 19 NOV. 1972 - no porto, Little Creek, VA

DEZ. 1972 a MAR. 1973 - em Portsmouth Naval Shipyard para revisão regular planejada.

01 ABR. a 10 de maio de 1973 - nenhum registro disponível - acredita que este período incluiu um cruzeiro de shakedown após a revisão do estaleiro

12-20 MAIO 1973 - no porto, Little Creek, VA

Minhas notas para 1973 parecem corresponder ao CRUZEIRO DE 3 MESES NO CARIBE NO VERÃO DE 1973 MENCIONADO NAS NOTAS DE HMC CLARK, TAMBÉM PUBLICADAS NESTE SITE:

JUN. 1973 - nenhum registro ou anotação disponível, mas acredito que iniciamos o cruzeiro pelo Caribe em junho

JUL. 1973 - no Panamá, ancorado próximo à entrada do Canal do Panamá, em Colon, Panamá, local que também ficava próximo à base de atividades do Grupo de Segurança Naval em Coco Solo, Zona do Canal

JUL. 1973 - em Barranquilla, Colômbia - Enquanto em Barranquilla, o navio teve uma Open House, e multidões de colombianos locais compareceram para visitas guiadas. Quando uma pobre garota colombiana expressou o quanto admirava uma grande barra de sabão em um banheiro, o marinheiro que estava fazendo o tour sentiu tanta pena dela que simplesmente pegou a barra de sabão e deu a ela. Além disso, nosso comandante, Capitão Miller, recebeu o prefeito de Barranquilla e alguns oficiais da Marinha colombiana e seus convidados para uma recepção em uma noite. De alguma forma, aconteceu que um oficial da Marinha colombiana comentou que seu time de basquete era muito bom e incluía 3 membros da seleção olímpica de basquete colombiana. O LTjg Reneau do Spiegel Grove inclinou-se para o LTjg Rich e disse: & quot Devemos jogar com eles. & Quot O LTjg Rich disse em voz alta: & quotCapitão Miller, se estiver tudo bem para você, o time de basquete do navio gostaria de desafiar o time colombiano para um jogo amanhã . & quot O capitão Miller concordou, e os colombianos aproveitaram a oportunidade para jogar. Grande parte da conversa restante na recepção foi dos colombianos que falavam inglês e seu intérprete, dizendo-nos para não nos sentirmos mal, mas a equipe de um navio não teve chance contra a equipe da Marinha colombiana que incluía 3 jogadores olímpicos (disseram eles repetidamente, mas muito educadamente). A hora do jogo se aproximava no dia seguinte. A equipe do LSD-32, sabendo o que havia sido dito na noite anterior, decidiu que precisávamos usar uma imprensa de tribunal completo para ter qualquer chance, e que deveríamos quebrar o jejum sempre que tivéssemos. Tínhamos uma equipe muito boa. Ao longo de um período de 3 temporadas, o Spiegel Grove venceu 25 jogos e perdeu apenas 10. A equipe LSD-32 derrotou a equipe da Marinha da Colômbia por uma pontuação esmagadora de 78-30. Descobriu-se que os três olímpicos colombianos eram todos atacantes e não tinham ninguém que pudesse manejar a bola na posição de guarda. A equipe Spiegel Grove liderou por um placar embaraçoso de 44-13 no intervalo. Mesmo quando jogamos subs durante grande parte do segundo tempo, o time do navio continuou a aumentar o placar. BM3 Dobbins, SN McCoy, SN Earl e SN Tircuit jogaram bem e Reneau e Rich de LTjg também jogaram duro, junto com outros marinheiros cujos nomes se perderam na memória ao longo das décadas. Após o jogo, as duas equipes se cumprimentaram com cordialidade e espírito esportivo. Sempre me perguntei como o prefeito de Barranquilla reagiu ao saber o resultado do jogo!

JUL. OU AGOSTO. 1973 - escala no porto em Aruba

JUL. OU AGOSTO. 1973 - em Roosevelt Roads, PR e Vieques - exercícios de apoio a tiros em Vieques

AGO 1973 - escala no porto de San Juan, PR

SEP. 1973 - nenhum registro ou nota disponível

Tarde de outubro. 1973 - levou um contingente de fuzileiros navais para Camp LeJeune, NC

NOTA: Visto que minhas lembranças e notas de 1972 e 1973 são incompletas, fico feliz que HMC Clark e BM2 Fodor tenham postado seus comentários que incluem este período de tempo.

Provavelmente em 1972, mas possivelmente em 1973 - Quando estava em andamento no GITMO, o USS Spiegel Grove arrancou vários pilares de outro navio e raspou o casco e o nosso - (ou pode ter sido ao deixar Roosevelt Roads - muitos da tripulação e oficiais teve uma ressaca muito forte naquele dia). Um piloto teve o golpe durante esta colisão menor, embora o capitão sempre seja responsável por tal incidente.

Também em 1972 ou 1973, enquanto estávamos no Caribe, também levamos um grupo de enfermeiras da Marinha de sua base no GITMO para Montego Bay, Jamaica, para R & ampR e depois os levamos de volta para o GITMO.


USS Abbot (DD-184) e USS Brazos (AO-4), Guantanamo Bay - História

O USS Kimberly serviu em águas coreanas como parte da Força-Tarefa 95 e 77, a Força de Transporte Rápido.


(Clique na imagem para ampliá-la)

ÍNDICE

ESTATISTICAS

Comprimento total = 376 pés
Feixe = 40 pés
Deslocamento = 2.050 toneladas
Velocidade = 35 nós

BREVE HISTÓRIA DO KIMBERLY ATRAVÉS DE 1945

[Enviado para o Educador da Guerra da Coréia por Don Pribble de Danville, IL]

A quilha do USS Kimberly (DD521), um contratorpedeiro de 2.050 toneladas da classe FLETCHER de 1940, foi assentada em 27 de julho de 1942, nos estaleiros da Bethlehem Steel Company, Mariners Harbor, Staten Island, Nova York, o navio tendo sido autorizado por uma lei do Congresso de 19 de julho de 1940. O destróier foi lançado em 4 de fevereiro de 1943, quando a Srta. Elsie Kimberly, de Bonita, Califórnia, filha do falecido contra-almirante Lewis Ashfield Kimberly, batizou o navio como o patrocinador oficial .

O DD521 foi batizado em memória do Contra-almirante Lewis Ashfield Kimberly, USN, que nasceu em 22 de abril de 1830, em Troy, Nova York. O contra-almirante Kimberly foi nomeado aspirante da marinha em 8 de dezembro de 1846 e de 1847 a 1860 serviu nos esquadrões da África, do Pacífico e das Índias Orientais. Durante a Guerra Civil, ele serviu a bordo do USS POTOMAC com esquadrões bloqueando o Ocidente. Ele também participou de operações no rio Mississippi em Port Hudson, Grand Gulf e Vicksburg. O almirante Kimberly foi oficial executivo do USS HARTFORD na Batalha de Mobile Bay e foi elogiado por sua bravura. De 1866 a 1889 ele navegou nas águas da Europa, Atlântico, Pacífico e Extremo Oriente e, em 10-11 de junho de 1871, ele estava no comando das forças terrestres em um ataque à Coréia. O contra-almirante Kimberly morreu em 28 de janeiro de 1902, em West Newton, Massachusetts.

O USS KIMBERLY foi colocado em comissão em 22 de maio de 1943, com o comandante Harry W. Smith, USN, como seu primeiro comandante. O KIMBERLY, com um nome valente e galante para cumprir, entrou em um período de redução intensiva logo após o comissionamento, uma vez que a necessidade era urgente para que os navios realizassem tarefas de escolta e patrulha nas águas do Atlântico e Pacífico.

Com o shakedown concluído, o contratorpedeiro reportou-se ao Navy Yard, Nova York, onde os três suportes dianteiros de 20 milímetros foram substituídos por baterias antiaéreas gêmeas de 40 milímetros, bem como outro equipamento operacional sendo instalado.

Em 10 de setembro de 1943, o USS KIMBERLY, em companhia do USS BUNKER HILL, USS ERBEN e USS ABBOT, levantou âncora na Base Operacional Naval de Norfolk, Virgínia, a caminho do Pacífico. Ela chegou a Pearl Harbor, Oahu, T.H., em 3 de outubro de 1943, e passou mais de um mês realizando exercícios de treinamento e manobras em águas havaianas.

Em 10 de novembro de 1943, como parte da Força-Tarefa 52, o DD 521 partiu de Pearl Harbor e rumou para as Ilhas Gilbert, onde a força-tarefa participou da invasão de objetivos ali, a partir de 20 de novembro. Como um navio de caça-diretor, o KIMBERLY direcionou aeronaves dos porta-aviões para interceptar os muitos ataques diários de avião das Ilhas Marshall controladas pelo Japão para o norte. Como escolta anti-submarina para os encouraçados e cruzadores, ela lançou cargas de profundidade em sete ocasiões diferentes, quando seu equipamento de som detectou possíveis submarinos inimigos. Quando o esperado contra-ataque da Frota Japonesa não se concretizou, o KIMBERLY deixou as águas sagradas de Tarawa e Makin em 5 de dezembro, escoltando cinco LST & # 8217s para Pearl Harbor.

Chegando a Pearl Harbor a tempo de receber a correspondência e pacotes de Natal de boas-vindas, o navio teve um período de disponibilidade de 12 dias, após o qual foi enviado ao estaleiro Bethlehem Steel Company & # 8217s em San Francisco, Califórnia, para reparos. Ela chegou a São Francisco em 8 de janeiro de 1944 e, após duas semanas, partiu para Adak, nas Ilhas Aleutas, no dia 22. O KIMBERLY chegou ao porto de Adak e se reportou ao Comandante North Pacific em 30 de janeiro, após o que ela foi imediatamente ordenada a se reportar ao Comandante Força-Tarefa 94 em Attu para o serviço.

Como parte da Força-Tarefa 94 sob o contra-almirante Baker, o KIMBERLY deixou Attu em 1 de fevereiro de 1944, com o objetivo Paramushiro nas Ilhas Curilas, controladas pelo Japão. Ela bombardeou Suribachi Wan e Kurabi Saki em 4 de fevereiro de 1944.

Os próximos oito meses foram passados ​​nas Aleutas em patrulhas anti-submarinas, exercícios de treinamento, varreduras ofensivas e bombardeios da cadeia de Kurile. Em 4 de março de 1944, a Força-Tarefa 94 penetrou nas Ilhas Curilas ao sul de Shashuktan em busca de um comboio inimigo e permaneceu dentro do Mar de Okhotsk por um período de 36 horas durante baixa visibilidade. Sob o comando do Contra-Almirante Smith, no CHESTER, a força-tarefa bombardeou Matsuwa em 13 de junho e Paramushiro em 26 de junho. Em 28 de julho, seis contratorpedeiros, dos quais o KIMBERLY estava incluído, fizeram uma varredura em busca de barcos de piquete inimigos nas áreas do norte de Kurile, mas os resultados foram negativos. A força-tarefa começou em 1º de agosto de 1944, para outro bombardeio das Kuriles, mas retirou-se antes do início das operações de bombardeio. A surpresa seria um dos principais fatores da operação, e a força fora avistada no mar por uma "Betty" japonesa que rondava.

O KIMBERLY partiu de Adak em 18 de setembro de 1944, a caminho de San Francisco para um período de disponibilidade de dez dias no Mare Island Navy Yard. Com os reparos concluídos, o contratorpedeiro deixou a área de São Francisco em 6 de outubro e seguiu para Pearl Harbor, chegando no dia 12.

Em 25 de outubro de 1944, o Comandante J.D. Whitfield, USN, substituiu o Comandante Harry W. Smith, USN, como oficial comandante do USS KIMBERLY.

Em seguida, o KIMBERLY navegou para Manus, nas Ilhas do Almirantado, onde ancorou em 9 de novembro de 1944. No dia seguinte, ela escapou por pouco de sérios danos ao mudar de cais de um raio de 1.000 jardas do USS MT. HOOD para outro ancoradouro. Quinze minutos depois, o MT. HOOD, um navio de munição, explodiu & # 8211 seus únicos sobreviventes sendo um oficial e 13 homens alistados que estavam em terra no momento.

O KIMBERLY se juntou à Unidade de Tarefa 79.15.4, um comboio de suprimentos com destino ao Golfo de Leyte, nas Ilhas Filipinas, e rastreado pelas unidades do Esquadrão Destroyer 49. Esta foi a primeira vez desde agosto que o KIMBERLY esteve com o esquadrão e, ao chegar em San Pedro Bay, Leyte, em 18 de novembro de 1944, disparou seu primeiro tiro contra uma aeronave japonesa desde um ano antes, na operação nas Ilhas Gilbert.

Em 20 de novembro, o navio partiu para Borgen Bay, Cape Gloucester, New Britain, onde permaneceu por três semanas enquanto as tropas na área eram evacuadas em preparação para o desembarque filipino em Luzon. Pedidos foram recebidos em 10 de dezembro para seguir para a Baía de San Pedro, Golfo de Leyte, via Hollandia, e o DD 521 ancorou no Golfo de Leyte seis dias depois.

Em 19 de dezembro de 1944, onze destróieres, incluindo o KIMBERLY, deixaram Leyte com um comboio de LSTs, LCI & # 8217s e navios de liberdade como o First Mindoro Resupply Echelon, com destino à Baía de Mangarin. No Mar de Sulu, no final da noite de 21 de dezembro, a formação foi atacada por aviões suicidas monomotores japoneses e bombardeiros bimotores.

Durante os primeiros ataques dos aviões Kamikaze em 21 de dezembro de 1944, o KIMBERLY teve sua primeira chance de realmente mostrar que não era apenas um navio de combate no nome, mas também em ação. Por quase duas horas, os aviões de ataque mantiveram o contratorpedeiro totalmente ocupado e o "521" errou por pouco os danos várias vezes quando aviões em chamas caíram na água por perto. Ela recebeu outra chamada de perto quando um bombardeiro jap voou diretamente sobre sua ponte com os compartimentos de bombas abertos, mas não conseguiu liberar sua carga de bomba até que ela tivesse passado. Nenhum avião inimigo escapou, e o KIMBERLY registrou uma morte certa e foi creditado com várias assistências.

Embora o DD 521 não tenha sofrido danos, o comboio não escapou ileso. Durante o crepúsculo e a escuridão de 21 de dezembro, muitos sobreviventes de navios danificados foram resgatados da água e, por trazer o "Might K" para perto de uma explosão de LST e tirar seu pessoal ferido, o comandante JD Whitfield, USN, o oficial comandante, mais tarde recebeu a Medalha de Estrela de Bronze & # 8211 assim como o Tenente (jg) Robert McIlroy, chefe do eletricista da USNR & # 8217s companheiro Art Foster, USNR e bombeiro de primeira classe HF McIntyre, USN, por sua parte nas operações de resgate.

Durante o dia seguinte, mais tentativas de suicídio foram feitas, mas a precisão do fogo antiaéreo KIMBERLY & # 8217s e o disparo da cobertura aérea dos P38 & # 8217s dos EUA foram tão eficazes que cada avião foi derrubado antes de atingir seu objetivo. Naquela noite, os japoneses continuaram seus ataques aéreos depois que os navios descarregados começaram sua viagem de volta para o Golfo de Leyte, mas nenhum outro dano foi causado pela formação.

Após uma semana de descanso e reabastecimento, o KIMBERLY apontou suas armas na direção do Golfo de Lingayen. Com o grupo de bombardeio pré-invasão, composto por navios de guerra veteranos como o USS CALIFORNIA, USS NEW MEXICO, USS IDAHO, USS PENNSYLVANIA e os cruzadores USS COLUMBIA, USS LOUISVILLE, HMAS AUSTRALIA e HMAS SHROPESHIRE, partiram para o KIM em 2 de janeiro de 1945, como parte da Unidade de Tarefa 77.2.1. Dois dias depois, não muito longe da cena do ataque de duas semanas antes, a formação foi submetida a repetidos ataques Kamikaze inimigos que foram pressionados para casa com grande persistência. Muitos aviões japoneses foram lançados ao mar em chamas, mas alguns acertaram no USS OMMANEY BAY, no USS MANILA BAY, no USS LOUISVILLE e no HMAS ARUNTA. Mais uma vez, o KIMBERLY saiu ileso e suas armas em chamas adicionaram outra morte certa a seu crédito.

Quando as forças de bombardeio chegaram ao Golfo de Lingayen e antes do nascer do sol, o KIMBERLY sofreu sua primeira baixa na guerra. Um avião inimigo, voando perto da água e vendo a silhueta do 521 em sua mira contra os primeiros raios do amanhecer, metralhou a área da ponte e feriu 13 oficiais e homens. No entanto, apenas um homem ficou gravemente ferido e a eficiência de combate do navio & # 8217s não foi prejudicada.

Todo o dia 6 de janeiro de 1945 foi gasto repelindo os ataques Kamikaze. No início da tarde, os japoneses aumentaram seu ritmo até que um ataque se seguiu a outro com apenas um momento de intervalo entre eles. O fogo combinado do grupo-tarefa foi eficaz, muitas vezes derrubando aeronaves em chamas e fumaça no Golfo. Uma vez, enquanto estava separado da formação para baixar um barco e resgatar os sobreviventes de navios danificados, o KIMBERLY derrubou dois aviões antes que eles pudessem alcançar os outros navios. O trabalho dos companheiros de médico e farmacêutico beirava o heróico, pois administravam à sobrecarga de pacientes, administrando plasma e morfina, enfaixando feridas e deixando os homens confortáveis.

Quando escureceu, o grupo de tarefa retirou-se para o mar e se preparou para os bombardeios programados do dia seguinte & # 8217s. Ao longo de 7 de janeiro, o DD 521 destruiu alvos específicos nas praias e apoiou as equipes de demolição subaquática, derrubando posições de metralhadora inimiga quando atiraram contra os nadadores que limpavam as águas rasas. Naquela noite, o KIMBERLY permaneceu no Golfo quando a formação foi para o mar. Ao longo de longas seis horas, o destróier manteve um bombardeio constante para assediar as tropas inimigas & # 8211 atingindo centros ferroviários, cruzamentos de estradas e iniciando incêndios em depósitos de suprimentos e depósitos de armazenamento.

Quando a força-tarefa reentrou no Golfo quando o sol nasceu em 8 de janeiro, o KIMBERLY novamente se juntou ao bombardeio intensificado até que no final do dia ela estava sem munição. A missão do grupo de bombardeio havia sido bem cumprida e no dia seguinte as tropas desembarcaram com pouca resistência.

Mais uma vez, o oficial comandante do KIMBERLY & # 8217s foi recompensado. Desta vez, ele recebeu uma Estrela de Ouro no lugar de uma segunda Medalha de Estrela de Bronze. Este prêmio foi para o resgate de sobreviventes de navios danificados da água, para aeronaves inimigas abatidas e para apoiar as equipes de demolição subaquática em seu trabalho.

Pelo resto do mês, o navio agiu como parte de um grupo de trabalho no Mar da China Meridional, preparado para interceptar qualquer possível contra-ataque imaginado pelo que restou da humilde Frota Imperial Japonesa.

Durante fevereiro de 1945, o KIMBERLY ficou parado no Golfo de Leyte, onde a tripulação desfrutou de vários dias de descanso e relaxamento, e começou os preparativos para a campanha de Okinawa, que seria a próxima no cronograma de operações.

Em 21 de março de 1945, o KIMBERLY estava em andamento com o Grupo de Tarefa 51.5 e a primeira luz da manhã de 26 de março revelou o destróier em uma estação de piquete de radar a poucos quilômetros de Kerama Retto, o cenário dos primeiros pousos no Ryukyus. O contorno das colinas de Okinawa podia ser visto no nebuloso horizonte azul. De repente, dois aviões japoneses saíram das nuvens, um (um "Val"), direcionando seu ataque ao KIMBERLY. As armas DD 521 e # 8217s abriram e atingiram repetidamente o suicida até que ele deixasse um rastro de chamas e fumaça. O capitão manobrou o navio violentamente, mas mesmo assim o piloto enlouquecido foi capaz de cair em cima de um dos suportes do canhão à ré. Imediatamente chamas e explosões envolveram a parte posterior do navio, mas a ação rápida por parte dos reparadores controlou o fogo. No entanto, o KIMBERLY havia sofrido danos consideráveis. Tudo nas proximidades do local do acidente foi demolido, incluindo três armas de necessidade vital. Nove homens foram mortos, 18 foram encontrados desaparecidos e 33 ficaram feridos em combate. O desempenho heróico e corajoso dos homens nas armas em que o Kamikaze se chocou nunca será esquecido por qualquer um dos que viram a ação.

Reparos de emergência foram feitos durante o resto do dia e, em seguida, o DD 521 relatou ao Comandante da Força-Tarefa pronto para o serviço. Ela permaneceu na área até 1º de abril de 1945, quando, com seus homens cansados ​​e exaustos, ela se dirigiu para o Estaleiro Marinha da Ilha Mare, na Califórnia, para uma revisão completa e reparo dos danos da batalha.

Com seu período de disponibilidade concluído em 26 de junho, o KIMBERLY passou o mês seguinte passando por um treinamento de atualização & # 8211 primeiro em San Diego, Califórnia, e depois em Pearl Harbor. Durante o período de revisão, o destróier a teve após a montagem do tubo de torpedo removida e em seu lugar baterias quádruplas de 40 milímetros foram instaladas. Esses novos canhões, com um novo sistema de direção a meia-nau, mostraram-se uma grande vantagem para aumentar a eficácia do fogo antiaéreo. Em suas práticas de bombardeio em terra, o KIMBERLY recebeu uma classificação "superior".

Ao deixar Pearl Harbor em 10 de agosto de 1945, o KIMBERLY foi designado para a TERCEIRA Frota, Força Tarefa 38, sob o comando do Almirante William F. Halsey, USN, e reportado ao Comandante Grupo de Tarefa 38.4 em 28 de agosto, a cerca de 100 milhas de distância Baía de Tóquio. O contratorpedeiro entrou na baía de Tóquio em 4 de setembro e dois dias depois estava a caminho do mar novamente, escoltando o USS MISSOURI.

O KIMBERLY chegou a Pearl Harbor em 20 de setembro de 1945, onde foi ordenado a seguir para Wilmington, Delaware, para as cerimônias do Dia da Marinha de 1945, após o que ela deveria prosseguir para sua base de "reserva", ainda não designada.

O primeiro comandante do USS KIMBERLY & # 8217s, Comandante Harry W. Smith, USN, foi premiado com a Fita de Comenda por suas ações como oficial comandante do DD 521 quando ela fazia parte da força-tarefa que participou do primeiro bombardeio de Paramushiro, Ilhas Curilas, em 4 de fevereiro de 1944.

O USS KIMBERLY navegou 140.000 milhas, operando no Oceano Atlântico, Mar do Caribe, Oceano Pacífico, Mar de Bering, Mar de Okhotsk, Mar de Bisbarck, Mar de Sulu, Mar de Mindanao, Mar da China Meridional, Mar das Filipinas e Mar da China Oriental. Seus portos de escala foram: Brooklyn, NY San Juan, Porto Rico Guantanamo Bay, Cuba Casco Bay, Maine Boston, Massachusetts Norfolk, Virginia Panama City, Panamá San Diego, California Pearl Harbor, Oahu, T.H. Makin Lagoon e Tarawa, Ilhas Gilbert San Francisco, California Kulak Bay, Adak, Alaska Massacre Bay, Attu, Alaska Great Sitkin, Alaska Dutch Harbor, Alaska Kiska, Alaska Vallejo, California Tanua, Ilhas do Almirantado Hollandia, Nova Guiné Cabo Gloucester, Nova Grã-Bretanha Lingayen, Luzon, Ilhas Filipinas Mindoro, PI Kerama Retto, Atol de Ulithi das Ilhas Ryukyus, Atol de Eniwetok das Carolinas Ocidentais, Ilhas Marshall Iwo Jima, Ilhas do Vulcão, Baía de Tóquio, Japn e Guam, Marianas.

Por diretriz datada de janeiro de 1947, o USS KIMBERLY (DD521) deveria ser colocado fora de serviço, na reserva, anexado à Frota de Reserva do Atlântico dos EUA.

O USS KIMBERLY (DD 521) ganhou quatro (4) estrelas de batalha na Faixa de Serviço da Área Ásia-Pacífico por participar das seguintes operações:

  • 1 Star / Gilbert Islands Operation & # 8211 13 de novembro a 8 de dezembro de 1943
  • Operação 1 Estrela / Ilhas Curilas
    Masashi Wan-Kurabu Zaki & # 8211 4 de fevereiro de 1944
    Matsuwa & # 8211 13 de junho de 1944
    Kurabu Zaki & # 8211 26 de junho de 1944
  • Operação 1 estrela / Leyte
    Leyte Landings & # 8211 10 de outubro a 29 de novembro de 1944
  • 1 Estrela / Operação Okinawa Gunto
    Ataque e ocupação de Okinawa Gunto & # 8211 24 de março a 30 de junho de 1945

O KIMBERLY também ganhou a Medalha de Serviço de Ocupação da Marinha, Pacífico, por suas atividades naquela área durante os períodos de 2 a 8 de setembro e 19 a 20 de setembro de 1945.

BREVE HISTÓRICO & # 8211 REATIVAÇÃO DURANTE A GUERRA COREANA

[Esta breve visão geral foi escrita por Michael Cole.]

A reativação do KIMBERLY começou no início de 1951, e ela foi readmitida em Charleston em 8 de fevereiro de 1951. Depois de se preparar em Charleston e Norfolk, o KIMBERLY começou seu treinamento de shakedown na Baía de Guantánamo em abril, com viagens para Kingston, Jamaica e St. Thomas, Ilhas Virgens.

Durante julho de 1951, o KIMBERLY se juntou à Força-Tarefa 81 no Atlântico e completou três semanas de treinamento avançado de Caçador / Assassino com uma visita de liberdade a Syndy, Nova Escócia.

De agosto ao final de novembro de 1951, o KIMBERLY passou por extensa modernização no Estaleiro Naval de Nova York. Depois da Licença de Natal em Norfolk, ela partiu para um treinamento de reciclagem na Baía de Guantánamo em janeiro de 1952. Retornando ao seu porto natal, Norfolk, o KIMBERLY operou com transportadoras locais e unidades submarinas até 15 de maio, quando navegou com sua Divisão para o Extremo Oriente.

Como parte da Força-Tarefa 95, a Força de Bloqueio das Nações Unidas, o KIMBERLY se juntou a unidades americanas, britânicas, canadenses, australianas, neozelandesas e sul-coreanas no patrulhamento das costas leste e oeste da batalha da Coreia. Ao longo da costa acidentada ao norte do Paralelo 38, relógios tensos atentos para o brilho da luz do sol nos barris de artilharia inimiga ou a forma escura de uma mina submersa, enquanto a bateria principal rugia mais de 800 tiros de morte e destruição nas instalações comunistas.

Em momentos mais silenciosos, o KIMBERLY direcionou as aeronaves das Nações Unidas para alvos de oportunidade e aguardou seu retorno seguro. Em todas as suas operações, o KIMBERLY ajudou a negar o uso do mar às forças comunistas norte-coreanas e chinesas.

Todas as mãos permaneceram em alerta desde o primeiro dia, quando um MiG de fabricação russa cercou o navio com sua trilha de vapor prateada.

Com uma alta velocidade e varredura para a costa leste da Coréia, o KIMBERLY retornou à sua divisão como parte da Força-Tarefa 77, a Força de Transporte Rápido. Ordens para o serviço destacado com o Battleship Iowa interromperam a triagem do porta-aviões. Durante este período, o KIMBERLY protegeu o Iowa e o Chefe de Operações Navais embarcado no bombardeio Wonsan muito divulgado.

O KIMBERLY operou com as Forças-Tarefa 95 e 77 nos mares Amarelo e Japão por 35 dias consecutivos no mar. Feito independente de bases em terra pelas técnicas modernas de transferência marítima, o KIMBERLY recebia combustível, comida, munição, correio e pessoal de navios de guerra e auxiliares. Para pequenas cargas, o movimentado helicóptero se tornou o anjo da frota.

Após um curto período de manutenção em Sasebo, o KIMBERLY navegou no Mar Amarelo para se juntar ao H.M.S. OCEANO. Aviões da British Carrier transportaram a guerra para a costa oeste da Coreia e forneceram à bateria antiaérea KIMBERLY práticas diárias. Alguns homens tiveram a sorte de serem transferidos para o oceano para uma visita de um dia & # 8217s, enquanto todos desfrutaram da correspondência de casa entregue pelo transportador & # 8217s "Whirlybird".

PORTAS DE CHAMADA E ATIVIDADES DO USS KIMBERLY DESDE QUE DEIXOU NORFOLK 15 DE MAIO (1952) E DEVOLVIDO EM 11 DE DEZEMBRO (1952)

[Esta informação foi enviada ao The Korean War Educator
pelo veterano Don Pribble de KIMBERLY, Danville, IL.]

  1. Norfolk, VA
  2. Zona do Canal do Panamá
  3. San Diego, CA
  4. Pearl Harbor, HI
  5. Ilha Midway
  6. Yokosuka, Japão
  7. Sasebo, Japão
  8. Coréia
    1. Cho Do, Força-Tarefa da Costa Oeste 95.
    2. Mar do Japão, Força-Tarefa da Costa Leste 77
    3. Wonsan, bombardeio da costa com USS Iowa
    4. Hamhung, bombardeio da costa com USS Iowa
    5. Sonjin, bombardeio da costa com USS Iowa
    6. Porto de Wonsan, bombardeio da costa com USS Iowa
    7. Tonchon, bombardeio costeiro sozinho
    1. Sasebo, Japão *
    2. Coréia
      1. Paeychong Do, bombardeio costeiro com TE 95.12.1
      2. Cho Do, bombardeio em terra com TE 95.12.1
      3. Guarda de avião para HMS OCEAN, TG 95

      * [Editor & # 8217s Nota: Havia dois # 8 e # 8217s na lista. Este não é um erro da parte do Educador da Guerra da Coréia.]

      BAYS, SEAS & amp; OCEANS HIT ON O CRUZEIRO EM ORDEM DE SEQUÊNCIA

      1. Baía de Chesapeake
      2. oceano Atlântico
      3. Mar do Caribe
      4. oceano Pacífico
      5. Golfo de Tehuantípico
      6. Mar Amarelo
      7. Mar do japão
      8. Mar da China Oriental
      9. Mar da China Meridional
      10. oceano Índico
      11. Mar arábico
      12. Golfo Pérsico
      13. golfo de Áden
      14. mar Vermelho
      15. mar Mediterrâneo
      16. Mar Jônico
      17. Mar Tirreno
      18. Mar da Ligúria
      19. Golfo de Leão
      20. Golfo de Valência
      21. oceano Atlântico
      22. Baía de Chesapeake

      DIRETOR EXECUTIVO & # 8217S MEMORANDO # 9-52

      [Esta informação foi enviada ao The Korean War Educator
      pelo veterano Don Pribble de KIMBERLY, Danville, IL.]

      ASSUNTO: Visita a Hong Kong, Informações Sobre

      1. OBJETIVO O objetivo deste memorando é publicar as informações agora disponíveis sobre Hong Kong. Seu escopo cobre segurança, liberdade, patrulha costeira, vendedores, recreação, diversão e informações gerais diversas.
      1. SEGURANÇA Os seguintes regulamentos especiais de segurança serão aplicados durante a estadia do KIMBERLY & # 8217s em Hong Kong:

      uma. Segurança do navio & # 8217s: Os seguintes relógios serão suspensos o tempo todo:

      OOD (oficial ou CPO) - braços laterais
      Gangway Petty Officers - braços laterais
      Mensageiros de Gangway (2) e # 8211
      (Um deve estar do lado oposto de
      tombadilho do OOD) - Correia
      Sentinela de proa - Carabina
      Stern Sentry - Carbine
      Vigilância de segurança - braços laterais
      Engenharia Auxiliar -
      Comunicações (Visual e Rádio) -

      Não será permitida a atracação de barcos ou sampanas ao lado do navio, exceto os passageiros que desembarcam e os barcos de lixo.

      As sentinelas devem estar constantemente alertas para evitar que mercadores e vendedores subam a bordo em locais não autorizados. Eles também devem estar alertas para tentativas de sabotagem ou furto. A força do Mestre de Armas deve patrulhar constantemente o navio para evitar que pessoas não autorizadas entrem a bordo e para garantir que os mercadores autorizados a bordo permaneçam na cauda.

      Uma mangueira de incêndio deve ser instalada no castelo de proa e na cauda para afastar vendedores e comerciantes persistentes.

      b. Segurança externa: Todas as mãos são instruídas a não discutir o seguinte na presença de estrangeiros ou a qualquer momento em terra:

      1. Informações gerais ou específicas sobre o pessoal dos EUA
      2. Características ou número de navios, aeronaves, eletrônicos,
        Armamentos, equipamentos especiais ou comunicações.
      3. Nomes e designações das Forças Armadas dos EUA, localização e movimentos prospectivos de navios da Marinha, aeronaves ou outras unidades das Forças Armadas.

      Sabe-se que os vermelhos chineses usam informantes femininos que frequentam bares, restaurantes e hotéis. Proteja sua conversa o tempo todo.

        LIBERTY Liberty será concedido a dois terços do navio, começando às 1100 diárias e expirando no cais (Blakes Pier) às 2400 para todos os homens não classificados. A liberdade para todos os homens avaliados expira em 0200 no cais. A licença dos oficiais em terra e a liberdade do CPO expirarão a bordo às 07h45.

      A liberdade é restrita a Hong Kong e Kowloon, no entanto, todos devem deixar Kowloon ao pôr do sol. Esta medida de precaução é necessária devido à proximidade da fronteira comunista com a China. Qualquer pessoa que cruzar a fronteira provavelmente fará uma viagem só de ida.

      Um oficial (LTJG ou superior)
      Um suboficial
      Cinco oficiais subalternos

      A Patrulha Costeira deve pousar meia hora antes do início da liberdade diariamente, e deve se reportar ao Quartel-General do Provost Marshall da Marinha Real, HMC TAMAR (Wellington Barracks) para instruções e posicionamento.

      O uniforme para patrulha costeira será:

      Oficial - Vestido de serviço cáqui com soutien
      Suboficial chefe - Vestido de serviço cáqui com soutien
      Oficiais mesquinhos - Tire a roupa branca, lenços de pescoço,
      Night stick e brassard

      1. Igreja da Santíssima Trindade
      2. St. Luke & # 8217s Chapel Wellington Barracks
      3. St. John & # 8217s Cathedral Royal Navy Hospital
      4. Igreja de Santo André e # 8217s

      Igreja da Escócia e Igrejas Livres

      1. Marinheiros e soldados, casa 22 Hennessey Road
      2. Igreja Metodista Inglesa Queens Road East
      3. Gospel Hall Dudolt Street
      4. Igreja Batista de Hillwood Road Kowloon

      1. St. Joseph & # 8217s Garden Road
      2. Catholic Center King & # 8217s Building
      3. Catedral Católica Caine Road
      4. St.Margaret e # 8217s Church Happy Valley
      5. St. Teresa & # 8217s Church Prince Edward Road
      6. Rosary Church Kowloon

      1. Hong Kong Tours 110 Peninsula Hotel
      2. Charles Cooper Agency Telefone 33438

      1. China Fleet Club Gloucester Road (armários,
      Bilhar, dança, loja de presentes)
      2. Victoria Club Victoria Barracks
      3. Casa dos Marinheiros e Soldados, 22 Hennessey Road
      4. St. Nicholas Club King & Edifício # 8217s
      5. Casa dos marinheiros e missões para o Seaman 40 Gloucester Road
      6. Nine Dragons Club Nathan Road, Kowloon

      1. Parisian 10 Queens Road
      2. Jimmy & # 8217s Kitchen Near Queens Theatre
      3. Aberdeens Fishing Village, W. End of Island
      4. The Gold Fish 16 Pennington Road
      5. Peking Duck Hennessey Hotel
      6. Windsor House Des Voeux Road Central
      7. Fazendas de laticínios em vários locais em Hong Kong

      1. "Jingles" 70 Nathan Road
      2. Restaurante Kowloon 200 Nathan Road
      3. Peninsuala Restaurant Salisbury Road
      4. Russina Restaurant 3 Hankaw Road
      5. Sham Rock Hotel 204 Nathan Road
      6. Fazendas leiteiras em vários locais em Kowloon

      1. Sky Room
      2. Hotel em Hong Kong
      3. Paramount Ballroom *
      4. Hennessey Ballroom *
      5. Lido Dance Hall *

      * Dançarinas mobiliadas por hora.

      Os seguintes comerciantes e vendedores foram confiáveis ​​no passado. Eles são listados apenas para informação e nenhuma recomendação é feita.

      Lee Chong Tai e Sung Lee 49 Johnston Road
      Willie e Charles McGee 104 Johnston Road, Ph. 22779
      James S. Lee 227 Gloucester Road, Ph. 25834
      James Woo Ltd. 24 Jafee Road, Ph. 38326
      King Brothers
      A.H. Jim and Co. Sala 607, Lockhart Hotel
      Johnny Ford 67 Gloucester Road
      K. Tom
      Alfaiate Naval Ken Kee
      A.H. King
      Hai Lee
      Chang Wing Tai 3 Granville Road, Kowloon, Ph. 33517
      Ah Kong 7 D & # 8217Aguilar Street
      William Young 5 Staunton Street
      C.C. Luing
      Harilola & # 8217s Emporium 1 & amp2 Middle Rd., Kowloon, Ph. 50679
      Mohans 14 B Hankow Rd., Kowloon

      James B. Tan 208 Gloucester Road, Ph. 27923
      Peter C.H. Hon
      Lefty Chow 21 Valley Road, Kowloon
      Sun Sheng & amp Co.
      Frazer Young 24 Wyndham Street, Ph. 282823

      Ying Tai Co. 27 Chung King Arcade, Kowloon
      Rua Mary Wong 4 Parkes de Xangai, Kowloon
      Mandarin Textiles 54 Granville Road, Kowloon

      T.Y. Lee 228 Gloucester Road, Ph. 27923
      Y.T. Kan 25 Saigon Street, Kowloon
      Po Hing 40 Johnston Road
      T.L. Mãe
      C.F. Chang
      George Pan 21 Valley Road, Kowloon
      Foo Chow Lacquer Co. 29 Nathan Road, Kowloon
      Yan Kee 145 Nennessey
      S.K. Rei

      Van Dykes Folts 27 Austin Road, Kowloon
      J.L. George and Co. 29-31 Saigon St., Kowloon
      George Zee and Co. 500A Castle Peak Road, Kowloon
      Peking Trading Co. 9 Wyndham Street, Ph. 37422

      K. Jamson 30 Hennessey Road
      Estrada Jor Kee 11 Luard
      W.S. Young 31 Kennedy Road
      San Nee Kee 139 Queen e # 8217s Road East
      No Squeek Young

      C.F. Jong e A.D. Chang 16 Fleming Road
      Dhobie Jim 49 Johnston Road
      Jimmie 227 Gloucester Road

      George Young 117 Can Ton Road, Kowloon
      Fiung Folts 11 Lock Road, Kowloon

      Loja de tapetes de arte de Pequim em Nathan Road, Kowloon
      Phillip Chu Middle Road, Kowloon

      Frank Ling 163 Lockhart Road
      T.M. Shao 77 Reclamation Street, Kowloon

      1. uma. Esquina de Hennessey Road e Queens Road para Wanchai Road, daí para Queens Road East e Kennedy Road, daí para Victoria Barracks, daí para Corner of Hennessey Road e Queens Road.
      2. b. Esquina da Johnston Road e # 8211 Wachai Road para Tin Lane. Em seguida, Via Wanchai Road para Johnston Road.
      3. c. Os barracos dos invasores e a área delimitada por Blue Pool Road, Sing Wood Road e Tsun Yun Street para Happy Valley.
        Por segurança, não desembarque sozinho. Sempre vá em pares ou em grupos maiores. Não ande de riquixá após o anoitecer e não ande de sampana sozinho quando estiver "sob o tempo".
      1. uma. Hong Kong é uma colônia da coroa britânica e é governada pelas leis e costumes britânicos. É uma importante base da Marinha Real Britânica e também serve como base para as forças terrestres e aéreas britânicas. Navios de guerra e pessoal dos EUA estão autorizados a entrar e permanecer em Hong Kong por convite e consentimento das autoridades britânicas. As Forças dos EUA são, portanto, obrigadas a respeitar as autoridades britânicas e mostrar a devida deferência às leis, costumes, cerimônias e regulamentos locais. Em todas as negociações com os habitantes locais, moderação e cortesia devem ser mostradas.
      2. b. As unidades visitantes da Marinha dos Estados Unidos foram recebidas pelo povo britânico e chinês da maneira mais cordial e cortês. As autoridades, tanto militares quanto civis, têm feito várias coisas pelo nosso bem-estar e têm cooperado conosco de todas as maneiras possíveis.
      3. c. O fato de o povo chinês ter costumes, tradições e condições de vida diferentes dos nossos não é razão para que devamos discordar deles ou menosprezá-los de qualquer forma. As dificuldades sofridas por muitas dessas pessoas estão além de nossas próprias experiências. A amizade que existe entre eles e nós é uma associação agradável, cuja continuidade é muito desejável. Cabe a nós, como visitantes em suas terras, demonstrar uma compreensão amigável e vontade de cooperação mútua.

      PLANO DO DIA 6 DE DEZEMBRO DE 1951 EUA KIMBERLY (DD-521)

      [Esta informação foi enviada ao The Korean War Educator por Don Pribble, Danville, IL.]

      Sunrise: 0705 Brooklyn, Nova York
      Pôr do sol: quinta-feira 1629
      6 de dezembro de 1951

      Seguindo a rotina diária no mar, conforme estabelecido no Pedido nº 39 do navio & # 8217s com as seguintes modificações.

      0345 e # 8211 Call Duty M.A.A.
      0430 & # 8211 REVEILLE & # 8211 Vire para preparar o navio para o mar.
      0440 e # 8211 Reunir PAL e homens restritos.
      0500 e # 8211 Liberty expira a bordo para as Seções 2 e 1.
      Café da manhã para a tripulação, observe comer no início da fila.
      0600 & # 8211 Definir detalhe do mar especial.
      0630 e # 8211 em andamento para NAD Earle, Nova Jersey
      0715 & # 8211 Quarters for Musters
      Instruções para todas as mãos no Procedimento Geral de Combate a Incêndio.
      0800 e # 8211 Berço no Pier 4 NAD Earle, Nova Jersey
      1600 e # 8211 (ou após a conclusão do carregamento de munição), o navio começará a funcionar
      para Hampton Roads, Virginia.

      NOTA 1
      O navio começará a carregar munição imediatamente na chegada em Earle, New Jersey. Todas as mãos participarão. A munição será carregada continuamente até a conclusão. A tripulação jantará nas Seções, começando com a Seção I, quando anunciado pelo sistema de alto-falantes.

      PARA. MC Whorter, LCDR, USN
      Diretor Executivo

      PLANO DO DIA EUA KIMBERLY (DD-521) 24 DE OUTUBRO DE 1952

      [Informações enviadas para The Korean War Educator
      por Don Pribble, Danville, IL.]

      Nascer do sol: sexta-feira
      Pôr do sol: 24 de outubro de 1952

      0530 e # 8211 Call Duty M.A.A.
      0615 & # 8211 REVEILLE & # 8211 Levantando todos os ponteiros, exceto o meio da vigília e atrasado autorizado
      redes. Cama de ar & # 8211 (se o tempo permitir)
      0622 & # 8211 Sunrise & # 8211 Ligue as luzes de corrida.
      0625 e # 8211 Reúna PAL & # 8217s e homens restritos.
      0630 - Vire para & # 8211 varredores de tubos.
      0645 & # 8211 O relógio que se aproxima do café da manhã é servido na frente da fila.
      0700 e # 8211 todas as redes até tarde.
      0715 e # 8211 Alivie o relógio.
      0800 & # 8211 Teste químico e alarme geral. QUARTOS PARA MUSTER.
      Teste o apito e a sirene (siga os movimentos do OTC).
      0815 - Ligue para iniciar o trabalho dos navios.
      0930 e # 8211 Limpadores de compartimento aguardam para inspeção dos compartimentos por
      Oficiais de divisão. (BM passa por todos os circuitos.)
      1030 e # 8211 Todos os cozinheiros, cozinheiros de refeitório e mordomos aguardam para inspeção pelo HMC.
      1045 e # 8211 Roupa de cama ventilada com tubulação.
      1115 e # 8211 Derrubem o trabalho dos navios, varredores de tubos.
      1130 e # 8211 Jantar. O próximo relógio comerá na frente da fila.
      1155 e # 8211 Alivie o relógio. Defina a condição II, seção 1 de Pollywog.
      1245 e # 8211 Volte para, continue o trabalho dos navios.
      1545 e # 8211 Alivie o relógio. Pollywog, seção II, vigie Davy Jones.
      1600 e # 8211 Retire o trabalho dos navios, devolva toda a tinta para o armário de pintura, varredores de tubos.
      1615 & # 8211 (Sobre) Davy Jones esperado a bordo & # 8211 todos os Pollywogs que não estão de guarda caem em
      em trimestres.
      1700 e # 8211 Feche e verifique as portas estanques à água abaixo do convés.
      1715 e # 8211 Ceia. O próximo relógio comerá na frente da fila.
      1745 e # 8211 Alivie o relógio. Pollywog seção 1.
      1733 & # 8211 Sunset & # 8211 Ligue as luzes de funcionamento.
      1900 & # 8211 Reunir PAL & # 8217s e homens restritos. Rig para filmes.
      1930 e # 8211 Muster Eight O & # 8217clock reports. Reportar todos os decks X e Y abaixo
      aberturas fechadas.
      1940 e # 8211 Alivie o relógio. Pollywog seção II.
      1945 & # 8211 Movie & # 8211 "Espere até o Sol brilhar Nellie."

      MEMORANDO DO CAPITÃO & # 8217S PARA TODAS AS MÃOS MAIO 1952

      [Informações enviadas para The Korean War Educator
      por Don Pribble, Danville, IL]

      Você teve a oportunidade de testemunhar em primeira mão os problemas envolvidos na recuperação de um homem que caiu ao mar. Por mais de um ano, temos treinado para atender a uma emergência dessa natureza, duas vezes existimos durante o período sob o Grupo de Treinamento da Baía de Guantánamo e duas vezes recebemos a nota de "bom" deles.

      Esta manhã obtivemos a nota de "satisfatório" pelos resultados obtidos (o homem foi recuperado vivo), mas pelo procedimento de manuseio do barco após a recuperação obtivemos o menor "insat" conhecido pela humanidade. Mais por pura sorte e superstição do que por ciência e habilidade, o homem foi recuperado e trazido a bordo. Ele quase se afogou NO BARCO! A marinharia demonstrada esta manhã foi terrível. Em um mar calmo e calmo, a queda de um barco foi ultrapassada, tombou e rosnou de modo a exigir meia hora de trabalho para limpar. O barco da baleia foi afundado porque os plugues do barco não foram inseridos!
      Felizmente, a queda para a frente foi engatada antes que o barco afundasse completamente, mas, como resultado, a almofada de içamento para a frente não é segura, a coluna da popa está rachada, várias costelas estão quebradas, o leme, a tampa do motor e muitas engrenagens do barco foram perdidas. o motor e o equipamento elétrico foram danificados pela água salgada e a bateria destruída.

      Ainda mais ridículo, dois de nossos próprios homens foram jogados na água e um terceiro recebeu um corte no olho. Ninguém no convés pensou em lançar uma corda aos homens até que eles tivessem flutuado para a popa quase lado a lado com a cabeça da tripulação. Muitos coletes salva-vidas foram jogados neles. Na verdade, os dois homens provavelmente derivaram para a popa deliberadamente porque toda vez que colocavam a cabeça para fora da água, alguém batia nela com um colete salva-vidas & # 8211 lembre-se de que eles estavam usando coletes salva-vidas e estariam perfeitamente seguros se tivessem algo para se pendurar para.

      Os erros de hoje deveriam ser óbvios para todos. No calor de uma emergência real e no desejo de salvar o homem na água, o pessoal esqueceu tudo o que tão bem sabe e saiu apressado em todas as direções, reduzindo a total desorganização e confusão algo que deveria e deve ser rotineiro e bem ordenado.

      Tentei muito encontrar alguma indicação de um marinheiro a bordo durante o fiasco e pensei ter visto um quando o gancho de arco cortou o mouse na queda para a frente com um canivete, mas depois descobri que ele teve que pegar emprestado aquele "distintivo" de um marinheiro do engenheiro de barco.

      Nos próximos seis meses, enfrentaremos baixas e emergências muito mais graves do que "homem ao mar". Tenho plena confiança no conhecimento e na habilidade de todos vocês para fazer um trabalho esplêndido, mas para fazer seu trabalho corretamente, a emoção, muitas pessoas dando ordens, gritando e gritando devem ser eliminados.

      O navio recebeu muitas mensagens de "muito bem" hoje e o Comandante da Divisão e o Oficial Comandante do JARVIS pediram que eu agradeço a todos por salvar o homem e, mais especificamente, para parabenizar o homem que ouviu, avistou e recuperou o homem. A estes, desejo agregar meus agradecimentos e parabéns a todos por uma recuperação maravilhosa. Será de seu interesse saber que desde o momento em que o homem foi avistado pela primeira vez até que ele estava mais ou menos seguro em nosso barco, foram apenas quatro minutos. É um momento extraordinário para qualquer homem & # 8217s da Marinha & # 8211. Duvido que um helicóptero pudesse ter igualado isso.

      Combat traçou o primeiro relatório com precisão e encontramos o homem onde eles disseram que ele estaria e depois de encontrá-lo, o barco o deixou em um tempo excelente.

      Todos vocês ajudaram a salvar a vida de um homem hoje e podem se orgulhar de ter feito isso. Isso substitui todas as outras considerações de danos ao barco e perda de algumas peças estranhas do equipamento do barco.

      Parabéns e muito bem!

      Educador da Guerra da Coréia de 2002-2016. Todos os direitos reservados. O uso não autorizado de material é proibido.


      Conteúdo

      Designado para a Força de Destruidores, Frota do Atlântico, Radford partiu de Norfolk em 12 de outubro em um cruzeiro shakedown para Melville, Rhode Island. Ela voltou a Hampton Roads em 21 de outubro para se juntar à força de escolta da seção de notícias de Newport do Troop Convoy 76 com destino à cidade de Nova York e águas europeias.

      Radford posteriormente operou na costa leste dos EUA em 1919, navegando para o sul para Cuba em 14 de janeiro de 1919. Enquanto estava baseada na Baía de Guantánamo, ela também viajou para a Baía de Guacanayabo e Santiago, Cuba, antes de retornar ao norte em 13 de março. Radford operado de Hampton Roads com a Frota do Atlântico de março a julho de 1919.

      Radford foi transferido para a Frota do Pacífico em julho de 1919 e liberado Hampton Roads em 19 de julho para Balboa, Canal Zone e San Diego. Após sua chegada a San Diego em 7 de agosto, ela se juntou à Destroyer Force, Pacific Fleet. Radford operou de Mare Island Navy Yard, San Diego e San Pedro em 1922, participando de exercícios de treinamento e manobras de esquadrão como uma unidade da Divisão 12, Esquadrão 10, Destroyer Flotilla 4. Ela chamou em Seattle, Tacoma e Bellingham, Washington em Setembro de 1919, e em Portland, Oregon, em dezembro de 1920. Designado DD-120 em julho de 1920, Radford descomissionado em 9 de junho de 1922 e permaneceu na reserva em San Diego por quase 15 anos.

      Radford foi reclassificado como AG-22 em 16 de abril de 1932 após a decisão de convertê-lo em um navio alvo móvel. O trabalho de conversão nunca foi realizado e Radford revertido para DD-120 em 27 de junho. Retirado do Registro de Navios Navais em 19 de maio de 1936, Radford foi afundado em 5 de agosto de 1936, de acordo com as disposições do Tratado de Londres para a limitação e redução do armamento naval.


      Spence partiu em 25 de agosto como uma unidade do Grupo de Tarefa (TG) 1.2 consistindo nos porta-aviões USS Princeton e USS Bellau Wood para apoiar as tropas que tomaram posse da Ilha Baker em 1 de setembro. Em 13 de setembro, ela foi para Efate e chegou ao porto de Havannah em 18 de setembro.

      Spence foi anexado à Divisão de Destruidores (DesDiv) 46 do Esquadrão de Destruidores (DesRon) 23. O esquadrão partiu em 22 de setembro para Tulagi, nas Ilhas Salomão. No dia 28, ela incendiou uma nave de superfície com suas baterias principais perto de Kolombangara e então patrulhou entre aquela ilha e Vella Lavella. Na noite de 1 e 2 de outubro, Spence estava com uma força ao largo de Vella Lavella para interditar a navegação japonesa e ajudou a destruir 20 barcaças japonesas. O DD então fez duas viagens de escolta de Tulagi a Purvis Bay durante a primeira parte do mês e terminou outubro apoiando desembarques nas Ilhas do Tesouro.

      O capitão Arleigh A. Burke assumiu o comando do DesRon 23 em 23 de outubro, e o esquadrão ficou conhecido como "Little Beavers". Em 1 de novembro, Spence participou do bombardeio dos aeródromos de Buka e Bonis e de posições inimigas nas ilhas Shortland para apoiar os desembarques no cabo Torokina, em Bougainville.

      Nas primeiras horas de 2 de novembro, a Força-Tarefa 39 interceptou uma força inimiga de dois cruzadores pesados ​​e dois leves com seis contratorpedeiros navegando em direção à Baía Imperatriz Augusta. Em 0231, Spence fez contato por radar a 16 milhas (26 km). Enquanto fechava o alvo, ela recebeu um golpe abaixo da linha d'água, mas continuou em ação. O destruidor disparou uma série de torpedos contra um navio a 3.000 jardas (3.000 m) de distância e foi recompensado com fumaça preta saindo do alvo. Quando Spence se retirou para o encontro com DesDiv 45, ela avistou outra força japonesa a 4.000 jardas (4.000 m) de distância. Ela abriu fogo, estava "no alvo" e viu um navio parar na água e queimar ferozmente. Desde a Spence estava com pouca munição, ela convocou DesDiv 45 para despejar granadas no destruidor malfadado Hatsukaze que afundou primeiro. O cruzador ligeiro japonês Sendai também se afundou no noivado.

      Quando o dia amanheceu, o mesmo aconteceu entre 70 e 80 aeronaves inimigas. Mas os japoneses perderam mais de 20 aviões ao marcar apenas dois acertos em Montpelier (CL-57).

      Spence retirou-se para Purvis Bay em 3 de novembro. No dia seguinte, ela fez escala em Tulagi e navegou com Nashville (CL-43) para o Golfo de Kula. Na tarde do dia 5, ela estava operando a noroeste das Ilhas do Tesouro quando foi atacada por aeronaves inimigas. Um avião lançou três bombas, mas o mais próximo caiu 75 jardas (69 m) de distância Spence's viga de estibordo.

      Pelas próximas três semanas, Spence realizou patrulha e escolta na área do Golfo de Port Purvis-Kula. Em 24 de novembro, o esquadrão estava reabastecendo em Hathorn Sound quando ordenou a noroeste da Ilha Buka que interceptasse navios japoneses que a inteligência americana descobrira que tentariam evacuar o pessoal da aviação dos campos de aviação de Buka-Bonis. Na manhã seguinte, os "Pequenos Castores" patrulhavam a rota Buka-Rabaul. Em 0142, no Canal de St. George, Spence fez contatos de radar de superfície a 22.000 jardas (20.000 m). O alcance fechou rapidamente, e, em 0156, DesDiv 45 disparou torpedos contra dois navios japoneses e acertou várias vezes. Vários minutos depois, o radar americano detectou um segundo grupo de três navios inimigos. Spence e Conversar (DD-509) receberam ordens para acabar com o primeiro grupo, enquanto DesDiv 45 bombardeou o segundo grupo.

      No primeiro grupo, Onami explodiu e afundou imediatamente enquanto Makinami foi espancado em um aleijado indefeso. Spence e Conversar abriu sobre ela com suas baterias principais e ela afundou em 0253. No segundo grupo, DesDiv 45 afundou Yugiri. Três dos cinco contratorpedeiros japoneses foram afundados sem nenhum dano ao DesRon 23. O esquadrão retornou à Baía de Purvis no Dia de Ação de Graças.

      Spence operou fora da Baía de Purvis até o final de janeiro de 1944, quando patrulhou perto da Ilha Verde e do Estreito de Bougainville. Em 5 de fevereiro, ela participou do bombardeio de áreas de abastecimento e bivouac em Hahela Plantation, na costa sudeste da Ilha Buka. No dia seguinte, ela afundou uma barcaça inimiga com tiros perto da Ilha Verde. Na noite de 9 e 10 de fevereiro, Spence ajudou a bombardear Tiaraka e Teopasino, em Bougainville. As armas de Spence atingiram Kavieng e Cape St.George, na Nova Irlanda, no dia 18, ela fez uma varredura nas rotas marítimas entre Kavieng e Truk. Os navios de guerra americanos não encontraram navios, então eles voltaram para Kavieng e bombardearam novamente no dia 22. Naquele dia, Spence e DesDiv 45 afundaram um navio mercante japonês de cerca de 5.000 toneladas a bombardeios.

      Spence operou com o TF 39 de 1 a 24 de março para apoiar os desembarques na Ilha do Emirau. No dia 27, ela saiu da Baía de Purvis com TF 58 para ataques contra Palau, Yap, Ulithi e Woleai, nas Ilhas Carolinas. De 13 a 25 de abril, Spence rastreou os porta-aviões rápidos enquanto eles atingiam alvos na Nova Guiné em apoio aos desembarques em Aitape, Baía de Tanahmerah e na Baía de Humboldt, Nova Guiné. Nos dias 29 e 30, os porta-aviões atacaram navios e instalações inimigas em Truk, a poderosa base naval japonesa nas Ilhas Carolinas. O contratorpedeiro retornou a Majuro para um período de manutenção de 4 de maio a 5 de junho.

      Spence sorteada com o TG 58.4, os velozes, no dia 6 de junho, para atacar as Ilhas Marianas. Quando a aeronave atingiu as ilhas, o contratorpedeiro avançou e bombardeou as posições inimigas em Guam e Saipan. Os aviões atacaram Iwo Jima no dia 16 e depois voltaram para atacar as Marianas. Spence participou do "Tiro ao Peru nas Marianas" durante a Batalha do Mar das Filipinas em 19 e 20 de junho. Em 23 e 24 de junho, aeronaves bombardearam alvos em Guam, Saipan e Tinian. O destróier conduziu bombardeios costeiros contra Rota, Saipan e Guam de 26 de junho até o final do mês, incendiando tanques de combustível e afundando dois sampanas no dia 27. Spence reabastecido em Eniwetok em julho e, em 4 de agosto, navegou para a costa da Califórnia via Pearl Harbor e chegou a São Francisco em 18 de agosto. Ela ficou em doca seca durante todo o mês de setembro e, em 5 de outubro, navegou para Pearl Harbor e Marshalls. Ela chegou a Eniwetok em 31 de outubro e foi enviada para Ulithi no início de novembro, onde foi designada para TG 38.1, a Unidade de Apoio para os transportadores rápidos do TF 38. Ela examinou os transportadores em águas filipinas enquanto eles lançavam ataques contra Luzon durante novembro e a primeira parte de dezembro.

      Em 17 de dezembro, Spence preparou-se para reabastecer e bombeou todo o lastro de água salgada de seus tanques, mas o mar agitado fez com que a operação de abastecimento fosse cancelada. No dia seguinte, o tempo piorou e a tempestade se transformou em um grande tufão. Enquanto os navios chafurdavam em vales de salmoura semelhantes a um desfiladeiro, Spence's o equipamento elétrico molhou-se com a grande quantidade de água do mar transportada a bordo. Depois de uma rotação de 72 graus para bombordo, todas as luzes se apagaram e as bombas pararam. O leme travou e, após um giro profundo para bombordo por volta de 1100, Spence emborcou e afundou. Apenas 24 de seu complemento sobreviveram. Um dos 24 sobreviventes foi David Moore, um afro-americano que flutuou no mar por dois dias e também foi responsável por salvar a vida de dois outros homens. casco (DD-350) e Monaghan (DD-354) também afundou no tufão. Spence foi retirado da lista da Marinha em 19 de janeiro de 1945.


      Mục lục

      Thomas được đặt lườn vào ngày 23 tháng 3 năm 1918 tại xưởng tàu của hãng Newport News Empresa de construção naval e doca seca ở Newport News, Virgínia. Nó được hạ thủy vào ngày 4 tháng 7 năm 1918, được đỡ đầu bởi bà Evelyn M. Thomas, vợ góa Trung úy Thomas, và được đưa ra hoạt động vào ngày 25 tháng 4 năm 1919 dưới quyền chyền, Thiế hun tá Hải quân Harry A. McClure.

      USS Thomas Sửa đổi

      Thomas hoạt động ngoài khơi bờ Đông Hoa Kỳ trong các chuyến đi huấn luyện và tập trận cho đến khi được cho xuất biên chế tại Filadélfia vào ngày 30 tháng 6 nyện và tập trận cho đến khi được cho xuất biên chế tại Filadélfia vào ngày 30 tháng 6 nyện vàm 1922 cho DD – 182 khi Hải quân Hoa Kỳ áp dụng phương thức đánh số hiệu lườn tàu vào ngày 17 tháng 7 năm 1920. Con tàu bị bỏ không trong lực lung dự bị tại Xưởng hải tiế Filadélfia trong o 18 năm.

      Được cho nhập biên chế trở lại vào ngày 17 tháng 6 năm 1940, khi Hải quân Hoa Kỳ cần tăng cường số lượng tàu chiến hoạt động thường trực nhằm đáp i quân Hoa Kỳ cần tăng cường số lượng tàu chiến hoạt động thường trực nhằm đáp i quân Hoa Kỳ cần tăng cường số lượng tàu chiến hoạt động thường trực nhằm đáp ng ti cn cn Tunểng ti lêpạ cầnậ Thomas được phân về Đội khu trục 79 trực thuộc Hải đội Đại Tây Dương. Nó hoạt động một thời gian ngắn trong nhiệm vụ huấn luyện và tập trận ngoài khơi bờ Đông cho đến khi được chọn để chuyển cho Anh Quốc theo Thỏa thuận đổi că că khu. Nó đi đến Halifax, Nova Escócia vào ngày 18 tháng 9 năm 1940 trong đợt chuyển giao thứ hai, một phần trong số 50 tàu khu trục sàn phẳng bốn ống khói đượcy chun giao thứ hai, một phần trong số 50 tàu khu trục sàn phẳng bốn ống khói đượcy chuyển giao để cn giao t hai Tây bán cầu. Sau một giai đoạn làm quen và huấn luyện với thủy thủ đoàn người Anh, Thomas được chính thức chuyển giao vào ngày 23 tháng 9 năm 1940. Tên nó sau đó được cho rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 8 tháng 1 năm 1941.

      HMS St Albans (I15) Sửa đổi

      Được đổi tên thành HMS St Albans (I15) và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia Anh, chiếc tàu khu trục lên đường đi cantou quần đảo Anh vào ngày 29 tháng 9. Sau một chặng dừng tại St. John's, v Bắcoundland, Irlanda, Belfast, Irlanda vào ngày 9 de tháng 10. Nó cùng với ba tàu chị em Santa Maria (USS Bagley (DD-185)), Banho de banheira (USS Hopewell (DD-181)) và Charlestown (USS Abade (DD-184)) được phân về Hải đội Rải mìn 1 như lực lượng hộ tống thường trực. Hoạt động ngoài khơi bờ biển phía Tây Escócia, chung tham gia các hoạt động rải mìn ban đầu tại e biển Đan Mạch ngăn cách giữa Islândia và Groenlândia.

      Xen kẻ giữa các hoạt động rải mìn, St Albans còn tham gia hộ tống các đoàn tàu vận tải. Vào các ngày 17 và 18 tháng 1 năm 1941, nó tìm kiếm những người sống sót của chiếc SS Almeda Star, vốn bị đắm do trúng ngư lôi phóng từ tàu ngầm U-boat Đức U-96 vào ngày 17 tháng 1. Nó trải qua một đợt sửa chữa tại Chatham trong tháng 2 nhằm chuẩn bị để được chuyển giao cho Hải quân Hoàng gia Na Uy lưu vong vào ngày 14 tháng 4.

      HNoMS St. Albans Sửa đổi

      St. Albans chỉ vừa mới đi vào hoạt động với thủy thủ đoàn người Na Uy khi nó mắc tai nạn va chạm với HMS Alberic, làm đắm chiếc tàu quét mìn và bản thân chịu hư hại đến mức phải được sửa chữa trong ụ tàu. Khi sẵn sàng để hoạt động trở lại, St. Albans gia nhập Đội hộ tống 7 và hoạt động từ Liverpool. Vào ngày 12 de 6, nó vớt những người sống sót của chiếc tàu hơi nước SS Empire Dew bị đắm do trúng ngư lôi từ tàu ngầm U-48 và đưa họ quay về Liverpool an toàn.

      Trên đường hộ tống Đoàn tàu SL 81 từ Cais de Serra Leoa trở về Anh, nó đã phối hợp cùng tàu khu trục HMS Andarilho và tàu corveta lớp Flor HMS Hortênsia trong việc đánh chìm tàu ​​ngầm U-401 vào ngày 3 tháng 8 năm 1941. Trong các hoạt động bảo vệ vận tải sau đó trên các tuyến đường giữa Tây Phi và quần đảo Anh, nó cũng nhiều lần tấn cô ng Uhung barco, nong nhắn ng Ung nhắm nhung barco, nn tấn công Ung-ging thêm chiến công nào.

      Trong mùa Thu tiếp theo, thời tiết khắc nghiệt đã gay hư hại nặng cho cấu trúc của St. Albans khi nó đang hộ tống Đoàn tàu ON 22 vào ngày 8 tháng 10 các thủy thủ Na Uy đã xoay xở đưa được nó đến Reykjavík, Islândia vào ngày hôm sau. Sau khi sửa chữa, nó tiếp tục nhiệm vụ hộ tống vận tải cùng Đội hộ tống 7 cho đến năm 1942. Vào tháng 3, nó hộ tống chiếc tàu sân bay HMS Ilustre bị Hu Hai đi từ Liverpool đến Rio Clyde, và trong tháng Tiep theo đã Ho Tống cho Đoàn Tàu PQ 15 Chuyên Vũ KHI cantou Nga, một chiến dịch Chiu đựng AP Luc Tấn công Boi máy baía và Tàu Ngam Đức Nang NE làm MAT ba tàu Đồng Minh.

      Tuy nhiên, trong chiến tranh, lỗi lầm khi nhận diện cùng những sai sót dẫn đường đôi khi có thể đưa đến tai hại. Trong một trường hợp, sự kết hợp các yếu tố này đã dẫn đến thảm họa khi St Albans cùng với tàu quét mìn HMS Gaivota đã đánh chìm tàu ​​ngầm Ba Lan OPR Jastrząb vào ngày 2 tháng 5, khiến năm thành viên thủy thủ đoàn thiệt mạng. Một tòa án đã khám phá rằng Jastrząb đang ở cách vị trí 100 dặm, tại một khu vực thường gặp tàu ngầm U-boat hoạt động, và cả hai vị chỉ huy đều không bị kết tội. [3] [4] Tuy nhiên, kết luận này bị các nguồn khác tranh cãi. [5]

      Cuối tháng đó, St. Albans gia nhập Đội Hộ tống Đặc biệt Liverpool. Trong số các con tàu được nó bảo vệ vào đầu tháng 6 bao gồm chiếc tàu biển chở hành khách RMS rainha Elizabeth của hãng tàu Cunard-Estrela Branca khi nó đi từ vùng quần đảo Anh đến mũi Hảo Vọng chở binh lính trên đường hướng cantou Trung Đông. Sau một đợt tái trang bị tại Falmouth từ tháng 7 a 10 năm 1942, St Albans lại hoạt động cùng Đội Hộ tống Đặc biệt cho đến cuối năm 1942. Đến tháng 1 năm 1943, nó phục vụ như là tàu mụcêu trong việc huấn luyện phi công thuộchân Khuyện phi công thuộchân Khuyện phi công thuộchân Chuyỉn Phi công thuộchân Chuy Bung.

      Vào tháng 2, St. Albans lên đường tiến vào Bắc Hải về phía bờ biển Escandinávia để truy tìm một tàu buôn Na Uy được báo cáo đang tìm cách thoát khỏi vùng biển do Đức kiểm soát. Trong nhiệm vụ này, chiếc tàu khu trục bị máy bay Đức tấn công nhưng thoát được mà không bị hư hại. Được Chuyên cantou Luc lượng Ho Tống Tai cho Phia Tây không Lau sau Djo, nenhuma đặt pode Cu Tai Halifax và làm Nhiệm vụ Ho Tống Van Tai Tai khu VUC Tây Đại Tây Dương trong Thoi Gian con lại của năm 1943. ROI Halifax Bon ngày sau lễ Giáng Sinh, nái đến Tyne vào ngày 10 de 1 năm 1944, nơi nó được đưa về thành phần dự bị.

      Dostoyny Sửa đổi

      Vào ngày 16 tháng 7 năm 1944, Anh Quốc chuyển St. Albans cho Hải quân Liên Xô, vốn đổi tên nó thành Dostoyny (tiếng Nga: Достойный). Con tàu phục vụ cùng Xô Viết cho đến khi được hoàn trả cho Anh vào ngày 28 de 2 de novembro de 1949 tại Rosyth, Escócia. Cuối cùng, chiếc tàu chiến kỳ cựu từng treo cờ của bốn nước bị tháo dỡ tại Charlestown, Anh vào tháng 4 de novembro de 1949.


      USS Ringgold foi lançado em 11 de novembro de 1942. O batismo foi realizado por Arunah Sheperdson Abell, sobrinha neta do Almirante Ringgold. Em 30 de dezembro de 1942, o USS Ringgold foi comissionado sob o comando do comandante Thomas F. Conley . A jornada de aceitação levou Ringgold de Nova York à Baía de Guantánamo em Cuba e vice-versa. Até meados de julho, ela estava nas águas ao redor de Trinidad para treinar. Em 21 de julho de 1943, ela deixou Nova York rumo ao Pacífico. Em 27 de julho, ela passou pelo Canal do Panamá. Foi em Pearl Harbor de Divisão de Destruidor 50 alocado e foi o carro-chefe de Esquadrão Destruidor (DESRON) 25 .

      Após várias semanas de treinamento, o USS Ringgold foi atribuído para Força Tarefa 50 com os porta-aviões USS Yorktown (CV-10), USS Essex (CV-9) e USS Independence (CVL-22). A força-tarefa realizou ataques na Ilha de Marcus em 1 de setembro de 1943. Tarawa e Mankin foram atacados em 18 e 19 de setembro.

      Depois de um ataque aéreo e de navio à Ilha Wake em 5 e 6 de outubro, o próximo alvo da força-tarefa foi o desembarque de fuzileiros navais dos EUA em Tarawa. USS Ringgold teve a missão de ser o primeiro a entrar na lagoa com o contratorpedeiro USS Dashiell (DD-659).

      Um contato de radar foi relatado às 22:00. Embora se soubesse que o submarino USS Nautilus (SS-168) estava na área, presumia-se que o USS Nautilus tinha saído a área no período da tarde para resgatar um piloto abatido e que submergiria ao ver sua própria força. Porque o Nautilus era perto de um recife, ele permaneceu na superfície. O almirante Hill queria evitar o encontro de qualquer patrulha japonesa e deu a ordem para o contato de combate. A torre do submarino foi atingida com a primeira salva do USS Ringgold , mas a granada não explodiu. USS Nautilus mergulhou e, após reparar o estrago, conseguiu chegar à Abemama.

      Os contratorpedeiros abriram fogo contra as baterias terrestres japonesas por volta das 05:00 e o bombardeio planejado começou às 06:22. Os caça-minas USS Persuit (AM-108) e USS Requisite (AM-109) abriram caminho para a lagoa sob a proteção de uma cortina de fumaça e também usaram suas armas contra as baterias japonesas. Enquanto USS Persuit marcado a rota liberada com bóias, USS Props led a USS Ringgold e USS Dashiell na lagoa. USS Ringgold foi atingido por dois projéteis japoneses, nenhum dos quais explodiu, mas causou a quebra da turbina de porto. Como as unidades mais pesadas não podiam entrar na lagoa, os dois destróieres, junto com os dois caça-minas, suportaram o peso do suporte de fogo para a infantaria marinha de desembarque. Dos 5.000 soldados que chegaram ao banco à noite, cerca de 1.500 foram feridos ou mortos. Durante o dia, os contratorpedeiros USS Frazier (DD-607) e USS Anderson (DD-411) chegaram em apoio. Provavelmente foi nas primeiras horas de 21 de novembro que Ringgold deu os tiros que atingiram o bunker do contra-almirante Keiji Shibazaki, o comandante dos defensores da Ilha Betio, matando o almirante Shibazaki.

      Em 25 de novembro, Tarawa foi ocupada pelas tropas americanas.

      Depois que os reparos foram concluídos em dezembro, o Ringgold participou do pouso em Kwajalein e Eniwetok em janeiro e fevereiro de 1944. Mais uma vez, ele foi usado para fornecer apoio de fogo às forças de desembarque. Em 20 de março, eles bombardearam alvos terrestres perto de Kavieng, na Nova Irlanda. De 24 de abril a 1º de maio de 1944, ela foi usada na conquista da Holanda na Nova Guiné Holandesa.

      Em junho, o USS Ringgold levou parte na Batalha das Ilhas Marianas. Durante o desembarque em Guam, serviu como um Embarcação de Controle da Embarcação de Pouso (LCCV) para auxiliar a embarcação de desembarque na navegação e fornecer apoio de fogo. Durante o pouso, ela liderou 23 ondas de embarcações de desembarque para a praia. Durante os desembarques em Morotai em 15 de setembro e em Panaon em 20 de outubro, o USS Ringgold novamente apoiou o desembarque das tropas com sua artilharia. Em 22 de outubro, ela foi liberada para revisão no Estaleiro Naval da Ilha Mare.

      No início de fevereiro de 1945, o USS Ringgold foi atribuído para Força Tarefa 58 sob o comando do vice-almirante Marc A. Mitscher, que realizou os primeiros ataques baseados em porta-aviões no interior e em Okinawa para auxiliar no desembarque em Iwojima. Os ataques começaram em 16 de fevereiro de 1945 e durante a operação de dois dias, as forças japonesas perderam 416 no ar, outros 354 foram destruídos no solo e um porta-aviões de escolta foi afundado.

      Após reparos em Ulithi e em Pearl Harbor, Ringgold pertenceu novamente à TF 58 a partir de 4 de junho de 1945 durante a Batalha de Okinawa. Após o fim da empresa, a força-tarefa foi transferida para a Baía de San Pedro, em Leyte, onde chegou no dia 13 de junho.

      Em 1º de julho, o navio zarpou novamente para realizar ataques ao coração do Japão com Destroyer Squadron 25 e Cruiser Division 17 (CruDiv 17) .

      Até a rendição japonesa, o USS Ringgold esteve envolvida em operações costeiras como parte da TF 38. Em 22 de agosto, ela foi designada para escoltar o USS Antietam (CV-36) até Guam, onde chegou quatro dias depois e os reparos foram realizados. Em seguida, ela levou 86 passageiros a bordo em Okinawa em 16 de setembro e os trouxe para Pearl Harbor para continuar a viagem para a costa leste. Em 23 de março de 1946, ela foi desativada e atribuída ao Frota da Reserva Atlântica em Charleston, Carolina do Sul, onde permaneceu até 1959. Como parte da entrega do navio à Marinha Alemã como parte do Programa de Assistência Militar , foi modernizado e equipado no Charleston Navy Yard.


      Assista o vídeo: USS Abbot DD 629